Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM 1. Môi trường và bảo vệ môi trường 1. Môi trường và hiện trạng môi trường Hiện nay trên thế giới có khá nhiều các quan niệm khác nhau về môi trƣờng. Điều đó cũng thật dễ hiểu bởi lý do chủ yếu là: thứ nhất, khoa học về môi trƣờng là một bộ môn khoa học còn hết sức non trẻ so với các bộ môn khoa học truyền thống khác, cùng với sự tiến triển của thời gian, khái niệm về môi trƣờng ngày càng đƣợc bổ sung, hoàn thiện và chính xác hoá dần; thứ hai, với các mục đích nghiên cứu hoặc ứng dụng khác nhau ngƣời ta đƣa ra những khái niệm khác nhau về môi trƣờng cho phù hợp.
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội chúng ta sử dụng nhiều khái niệm khái niệm môi trƣờng nhƣ: môi trƣờng sƣ phạm, môi trƣờng xã hội, môi trƣờng kinh tế v. Môi trƣờng theo định nghĩa thông thƣờng “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con ngƣời hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con ngƣời hay sinh vật ấy” [16. Bách khoa toàn thƣ về môi trƣờng (1994) đƣa ra định nghĩa môi trƣờng nhƣ sau: “Môi trƣờng là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con ngƣời trong thời gian bất kỳ”. Các quan niệm trên đều cho rằng môi trƣờng bao gồm tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con ngƣời có ảnh hƣởng tới con ngƣơì và tác động qua lại với các hoạt động sống của con ngƣời nhƣ: không khí, nƣớc, đất, sinh vật, xã hội loài ngƣời v.
Môi trƣờng sống của con ngƣời theo chức năng đƣợc chia thành các loại: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Môi trƣờng tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên nhƣ các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con ngƣời - Môi trƣờng xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời và ngƣời tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài ngƣời. Ví dụ: sự gia tăng dân số, định cƣ, di cƣ, môi trƣờng sống của dân tộc thiểu số, luật lệ, thể chế v. - Môi trƣờng nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội do con ngƣời tạo nên và chịu sự chi phối của con ngƣời. Ví dụ: nhà ở, công sở, môi trƣờng khu vực đô thị và khu công nghiệp, môi trƣờng nông thôn.
Khái niệm môi trƣờng sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm đƣợc hiểu nhƣ là mối liên hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, trong đó môi trƣờng đƣợc hiểu nhƣ là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con ngƣời. Điều 1 Luật môi trƣờng đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 định nghĩa “môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên. Theo khoản 1, Điều 2 Luật bảo vệ môi trƣờng thì môi trƣờng đƣợc tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất: “không khí, nƣớc, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cƣ, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác”. Trong số đó, những yếu tố vật chất tự nhiên nhƣ đất, nƣớc, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả.
Những yếu tố này đƣợc coi là những yếu tố cơ bản của môi trƣờng, chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con ngƣời. Con ngƣời chỉ có thể tác động tới chúng ở chừng mực nhất định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trƣờng còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo. Những yếu tố này do con ngƣời tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời.
Ví dụ nhƣ: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, công trình văn hoá, kiến trúc mà con ngƣời từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng nên. Qua phân tích trên chúng ta thấy các khía cạnh về môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng văn hóa, môi trƣờng xã hội - nhân văn. không đƣợc đề cập đến. Với mục đích thực hiện công tác quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khái niệm môi trƣờng đề cập tới trong Luật bảo vệ môi trƣờng là hoàn toàn phù hợp và đây chính là khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn này.
Hiện trạng môi trường Việt Nam Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay đang ngày càng khởi sắc và đạt đƣợc rất nhiều thành tƣụ quan trọng. Đồng thời với quá trình phát triển đó là sự gia tăng của các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng. Theo báo cáo hiện trạng môi trƣờng Việt Nam năm 2002 của Bộ tài nguyên và môi trƣờng, chúng ta có thể thấy đƣợc hiện trạng môi trƣờng hiện nay của Việt Nam nhƣ sau: Hiện trạng môi trường không khí Môi trƣờng không khí ở hầu hết đô thị và các khu công nghiệp nƣớc ta đều bị ô nhiễm nặng về bụi. Nồng độ bụi trong không khí vƣợt quá trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 đến 3 lần, cá biệt có chỗ vƣợt tới 10 lần.
Nồng độ khí SO2 trong khu vực xung quanh một số nhà máy, xí nghiệp vƣợt quá trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,1 đến 2,7 lần. Nồng độ chì trong không khí ở các đƣờng giao thông trong 6 tháng cuối năm 2001 và đầu năm 2002 đã giảm đi khoản 40 - 50% so với cùng kỳ năm trƣớc. Ở Việt Nam, ô nhiễm khí CO, CO 2, NO2 chƣa trở thành vấn đề. Hiện tƣợng mƣa có độ pH < 5,5 đã xảy ra ở nhiều địa phƣơng, đặc biệt là vùng Đông Nam bộ.
Nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trƣờng không khí ở nƣớc ta là các nguồn thải từ giao thông vận tải, công nghiệp và xây dựng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Môi trường nước lục địa Tài nguyên nƣớc nói chung bao gồm nƣớc trong khí quyển, nƣớc trên mặt đất, nƣớc dƣới mặt đất (nƣớc ngầm). Ở Việt Nam, nƣớc chƣa đƣợc xem là một loại hàng hoá đặc biệt: giá nƣớc không hợp lý, sự quản lý lỏng lẻo. là nguyên nhân gây nên tình trạng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí nƣớc, đồng thời cũng là nguyên nhân làm biến đổi số lƣợng, chất lƣợng tài nguyên nƣớc trên nhiều vùng lãnh thổ, gây ra tình trạng thiếu nƣớc trầm trọng.
Đối với môi trƣờng nƣớc mặt: lƣợng nƣớc mặt phân bố không đều gây nên tình trạng khan hiếm nƣớc hoặc lũ lụt. Chất lƣợng nƣớc mặt tại một số con sông chỉ có thể sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Không có quy hoạch khai thác và sử dụng nƣớc hợp lý giữa các tiểu ngành dẫn đến sự xâm nhập mặn. Đã có biểu hiện hoang mạc tại khu vực miền trung nhƣ Bình - Trị - Thiên.
Nƣớc thải và nƣớc mƣa đều không đƣợc xử lý gây nên tình trạng ô nhiễm nƣớc mặt và vấn đề này có xu hƣớng ngày càng xấu đi. Đối với nƣớc ngầm: tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh ở Việt Nam và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc trong vùng lãnh thổ. Trữ lƣợng nƣớc ngầm ở Việt Nam rất lớn, nhƣng phân bố không đồng đều nên việc tìm kiếm và thăm dò nƣớc ngầm thƣờng tập trung vào những vùng có nhu cầu khai thác sử dụng. Mặt khác, chất lƣợng nƣớc ngầm cũng rất khác nhau.
Mực nƣớc ngầm bị hạ thấp. Chế độ khai thác không hợp lý, lƣợng nƣớc ngọt lấy ra quá mức cho phép khiến cho ranh giới mặn - ngọt bị kéo về phía công trình khai thác. Ô nhiễm các nguồn nƣớc mặt ở khu vực đô thị và khu công nghiệp là vấn đề nổi cộm hiện nay. Tình trạng ô nhiễm nƣớc rõ ràng nhất là ở Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Nam Định, Hải Dƣơng và các thành phố, thị xã lớn.
Tại Hà nội, thực tế là nƣớc thải sinh hoạt và công nghiệp đều không đƣợc xử lý trƣớc khi xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ kênh, mƣơng). Trong số các doanh nghiệp đã khảo sát tới 90% số doanh nghiêp không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lƣợng dòng xả nƣớc thải xả ra môi trƣờng. 73% số doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghiệp xả nƣớc thải không đạt tiêu chuẩn do không có các công trình và thiết bị xử lý nƣớc thải. 60% số công trình xử lý nƣớc thải hoạt động vận hành không đạt yêu cầu.
Kết quả tải lƣợng ô nhiễm trong các sông, hồ khá cao. Nƣớc ở kênh, mƣơng trong TP Hồ Chí Minh lại bị ô nhiễm nặng nề hơn do tình trạng tăng dân số quá nhanh. Cảng Sài gòn là một trong những cảng chính về các sản phẩm dầu và đã xảy ra một số sự cố tràn dầu trong những năm gần đây. Hiện trạng môi trường biển và vùng biển ven bờ: Nguồn lợi sinh vật và đa dạng sinh học biển bị suy giảm do tình trạng đánh bắt quá mức, đánh bắt bằng các loại công cụ mang tính huỷ diệt.
Hậu quả của việc khai thác hải sản bằng các công cụ huỷ diệt rất nghiêm trọng: làm mất khả năng phục hồi quần thể, phá hoại sinh cảnh và nơi sinh cƣ, làm mất cân bằng hệ sinh thái. So sánh kết quả quan trắc, phân tích chất lƣợng môi trƣờng nƣớc biển ven bờ năm 2001 với kết quả của các năm trƣớc cho thấy chất lƣợng nƣớc và trầm tích biển bị suy giảm. Tình trạng ô nhiễm dầu tăng cao ở một số nơi.