Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm. Chương 2: Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 1.1 Khái niệm thực phẩm Theo Từ điển Tiếng Việt, thực phẩm là đồ dùng làm món ăn nói 3 chung. Khái niệm này mang tính trừu tượng, khái quát cao và theo đó tất cả những gì có thể sử dụng làm món ăn đều là thực phẩm mà không phân biệt nguồn gốc, trạng thái vật lý, tác dụng.
Trong văn bản quy phạm pháp luật, khái niệm thực phẩm được đề cập trực tiếp lần đầu tại khoản 1 Điều 3 Quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) ban hành kèm theo Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT), cụ thể, "thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm”. Khái niệm này có nội dung chưa rõ ràng, chưa thể hiện được các đặc điểm riêng để có thể phân biệt một cách chính xác cái nào là thực phẩm và cái nào không phải là thực phẩm. Sau đó, tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh VSATTP được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26 tháng 7 năm 2003 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 2003) thì “thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”. So với quy định tại Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT, khái niệm thực phẩm trong Pháp lệnh năm 2003 vẫn còn mang tính khái quát cao, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa thực phẩm với các khái niệm mỹ phẩm, dược phẩm.
Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay có rất nhiều sản phẩm vừa được sử dụng như thực phẩm vừa được sử dụng như dược phẩm như cháo ăn kiêng, các loại sữa chua lên men, … Những sản phẩm này được coi là dược phẩm khi có thành phần hoạt chất với hàm lượng liều dùng có tác dụng phòng và chữa bệnh4. 3 Nguyễn Như Ý chủ biên (2011), Từ điển Tiếng Việt, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 4 điểm 1 mục 1 Thông tư số 17/2000/TT-BYT ngày 27/9/2000 của Bộ Y tế. 6 Khắc phục hạn chế của khái niệm thực phẩm trong các văn bản vừa nêu, khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010 đã quy định “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.
Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. So với quy định trong các văn bản trước đó, khái niệm thực phẩm tại khoản 20 Điều 2 Luật ATTP năm 2010 đã thể hiện sự tách bạch giữa thực phẩm với mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm và cách hiểu này được tác giả sử dụng trong toàn bộ nội dung Luận văn này.2 Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm Tại khoản 10 Điều 3 của Quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành kèm theo Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT quy định, “vệ sinh an toàn thực phẩm là việc thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng; không bị hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng”. Về nội dung, khái niệm VSATTP này chủ yếu mang tính liệt kê các điều kiện và yêu cầu để thực phẩm an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người như “không bị hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng” mà không bao quát hết các điều kiện đảm bảo VSATTP trong suốt chuỗi hình thành thực phẩm. Khắc phục hạn chế này, khái niệm VSATTP theo khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh VSATTP 2003 đã được quy định ngắn gọn, súc tích nhưng đầy đủ hơn.
Cụ thể, “vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người”. Theo đó, vấn đề VSATTP được đặt ra trong suốt chuỗi hình thành thực phẩm “từ nông trại đến bàn ăn”, từ khi chăn nuôi, trồng trọt, thu hoạch sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển,… cho đến tiêu dùng và khắc phục sự cố ngộ độc thực phẩm. Tuy nhiên, VSATTP còn phản ánh chất lượng thực phẩm nên không thể có chất lượng thực phẩm tốt khi không tuân thủ các quy định về VSATTP. Việc thực hiện các quy định về VSATTP nhằm mục đích tạo ra thực phẩm an toàn, mặc dù trong nó vẫn chứa các tác nhân vật lý, hóa học, 7 sinh học nhưng ở một mức độ an toàn, không gây hại cho sức khỏe và tính mạng của con người.
Hiện nay, Luật ATTP 2010 không còn đề cập đến khái niệm “vệ sinh an toàn thực phẩm” mà thay vào đó là khái niệm “an toàn thực phẩm”. Theo đó, khoản 1 Điều 2 Luật ATTP quy định, “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. Theo tác giả, sự thay thế thuật ngữ này hoàn toàn đúng bởi lẽ để đảm bảo thực phẩm an toàn thì bắt buộc thực phẩm đó phải đảm bảo vệ sinh, thực phẩm không thể an toàn nếu không đảm bảo vệ sinh. Quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.
Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả vẫn sử dụng thuật ngữ “vệ sinh an toàn thực phẩm” nhưng mang nội hàm của khái niệm “an toàn thực phẩm” vì mặc dù Luật ATTP đã có hiệu lực thi hành nhưng phần lớn các văn bản pháp luật và các Nghị định của Chính phủ có quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực này vẫn chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời nên vẫn còn thuật ngữ “vệ sinh an toàn thực phẩm”.3 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện nay, trong các Nghị định quy định về xử phạt VPHC và ngay cả Pháp lệnh Xử lý VPHC đều không đưa ra một khái niệm VPHC cụ thể. Trước đó, chỉ một lần duy nhất VPHC được định nghĩa chính thức tại Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30 tháng 11 năm 1989 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 1989), theo đó “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Tuy nhiên, định nghĩa trên đã thể hiện một số hạn chế nhất định như: chưa đề cập đến dấu hiệu về năng lực trách nhiệm hành chính của chủ thể và không chính xác khi cho rằng quy tắc quản lý nhà nước là khách thể của vi phạm5; việc xác định khách thể của VPHC là các quy tắc quản lý nhà nước 5 Lê Vương Long (2003), “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Đặc san về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, (tháng 9/2003), tr. 8 dẫn đến có thể được hiểu đó là khách thể của cả vi phạm kỷ luật và không bao gồm được các quan hệ xã hội liên quan tới sở hữu nhà nước, các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân6.
Trong Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1995 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 1995) và Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 2002) không đưa ra định nghĩa VPHC mà chỉ định nghĩa VPHC một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt VPHC. Chính vì vậy, các Nghị định có quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP cũng không đưa ra một định nghĩa chính thức về VPHC trong lĩnh vực VSATTP mà chỉ định nghĩa VPHC một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt VPHC. Theo đó, VPHC trong lĩnh vực VSATTP được hiểu là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, để xác định một hành vi xảy ra có phải là hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP hay không thì cần phải xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành VPHC trong lĩnh vực VSATTP.
Giống như các loại vi phạm pháp luật khác nói chung và VPHC nói riêng, VPHC trong lĩnh vực VSTTP cũng bao gồm bốn yếu tố: mặt khách quan; mặt chủ quan; chủ thể và khách thể. Trong mỗi yếu tố đều có những dấu hiệu pháp lý mang tính bắt buộc và những dấu hiệu đặc trưng riêng, cụ thể như sau: Thứ nhất, mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực VSATTP bao gồm các dấu hiệu: hành vi vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm, công cụ phương tiện, hậu quả và mối quan hệ nhân quả. Cụ thể: Một là, hành vi là dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan, tức là hành vi phải xác định được, đã xảy ra thực tế (VPHC không thể là suy nghĩ) xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước.