chương 1 Việc xử lý tài sản bảo đảm là kết quả của hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm. Hệ lụy của quá trình xử lý tài sản bảo đảm tác động trực tiếp đến lợi ích của bên chủ sở hữu tai sản (bên BD), bên hưởng lợi từ việc xử ly tài sản bao đảm (bên nhận BD) va các chủ thê khác có lợi ích liên quan (bên bảo lãnh hay còn gọi là bên thứ ba, cơ quan nhà nước, người mua, người nhận chuyên nhượng tài sản bảo đảm ngay tình,). Do việc xử lý tài sản bảo dam rat dé xảy ra các tranh chấp, bat đồng về lợi ích giữa các bên liên quan đến tài sản bảo đảm nên cần đòi hỏi các cơ quan chức năng nhà nước thiết lập một hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm, trong đó có quy định về xử lý tài sản bảo đảm thực sự đồng bộ, hoàn thiện. Trong luận văn này, người viết cũng có so sánh những ưu điểm và nhược điểm của hai phương pháp XLTSBĐ là XLTSBĐ theo thỏa thuận (phí tố tụng) và XLTSBĐ bang biện pháp tổ tụng.
Từ đó đi sâu nghiên cứu về các vấn đề và các quy định pháp luật liên quan phương pháp XLTSBĐ theo thỏa thuận là phương pháp tác giả nhận thấy có nhiều ưu điểm vượt trội và đang được các ngân hàng thương mại ưu tiên sử dụng trong giai đoạn hiện nay. Chính phủ va các ngân hang đã và đang nỗ lực tìm ra các giải pháp dé hoàn thiện phương pháp xử lý tài sản đảm bảo theo thỏa thuận. Xu hướng chung là kết hợp các công cụ hành chính, tư pháp và nghiệp vụ ngân hàng dé xử lý tận gốc các khoản nợ xâu ở khu vực ngân hàng thương mại hiện nay. 17 CHƯƠNG 2: THỰC TIẾN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VE XỬ LÝ TAI SAN BẢO DAM THEO PHƯƠNG PHÁP THỎA THUẬN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Quy định pháp luật Việt Nam về xử lý tài sản bảo đảm theo cơ chế thỏa thuận 2. Quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm 2. Nghị quyết 42/2017/QH14 Đảng va Nhà nước ta dang quan tâm đến van dé giải quyết tình trạng nợ xấu của các ngân hàng, tô chức tín dụng và đã xây dựng các chính sách thực thi, một trong số đó đã được thể hiện tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017. Quyết định của Quốc hội về Chương trình thí điểm xử lý nợ xấu của các tô chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 15/8/2017.
Nghị quyết này quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tô chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tô chức tin dụng; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập dé xử lý nợ xấu của tô chức tin dụng. Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, khi áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 vào thực tiễn co bản đã đạt hiệu qua cao, giúp thúc day, tập trung hóa việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng, tổ chức tín dụng va đáp ứng day đủ yêu cầu, tinh thần của Nghị quyết đưa ra. Góp phần đảm bảo cơ chế về xử lý tài sản bảo đảm theo cơ chế thỏa thuận một cách thuận lợi hơn. Nghị định 62/2017 ND- CP Ngày 16 tháng 5 năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2017/ND- CP quy định chi tiết nhiều quy định và biện pháp thi hành Luật dau giá tài sản.
Phạm vi điều chỉnh được : “Nghị định này quy định chỉ tiết một số quy định, biện pháp thi hành Luật đâu giá tài sản về câp, thu hôi thẻ đầu giá viên; các hình thức đâu giá trực 18 tuyến; việc đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đấu giá tài sản được thành lập trước khi thực hiện Tài sản”. Trong đó Trong trường hợp cuộc dau gia duoc thuc hién bang hình thức đấu gia trực tuyến thì tổ chức đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tai sản hoặc tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập dé xử lý nợ xâu của tô chức tín dụng tự đấu giá thì thực hiện trình tự, thủ tục đấu giá tài sản theo quy định Luật dau giá tài sản và trình tự thủ tục dau giá trực tuyến theo quy định của Nghị định. Trước khi đấu giá trực tuyến, tổ chức đấu giá tài sản đăng tải. Quy chế cuộc đấu giá trên Trang thông tin điện tử đấu giá trực tuyến.
Khi đăng ký tham gia dau giá, người tham gia dau giá được cấp một tài khoản truy cập; được hướng dẫn về cách sử dụng tài khoản, cách trả giá và các nội dung cần thiết khác trên Trang thông tin điện tử đấu giá trực tuyến dé thực hiện việc dau giá trực tuyến. Người tham gia dau giá sử dụng tài khoản của minh và thực hiện việc trả giá theo phương thức đấu giá, bước giá đã được công bố. Đấu giá viên được tô chức dau giá tài sản, thành viên được Hội đồng đấu giá, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tô chức tín dụng phân công chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện cuộc đấu giá trực tuyến. Đấu giá viên căn cứ kết quả xác định người trúng dau giá theo quy định, lập biên bản cuộc đấu giá trực tuyến, công bố người trúng dau giá trên hệ thống đấu giá trực tuyến ngay sau khi cuộc đấu giá kết thúc.
Kết quả cuộc dau giá trực tuyến được đăng công khai trên hệ thống đấu giá trực tuyến và được gửi vào địa chỉ điện tử của người tham gia đấu giá đã đăng ký với tổ chức đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập dé xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ngay sau khi có công bố người trúng đấu giá trên hệ thống đấu giá trực tuyến. Việc này làm cho TSBD trong qua trình giải quyết trở nên nhanh chóng và thu hồi một cách nhanh chóng.Nghị Dinh 21/2021 ND - CP Ngày 19 tháng 3 năm 2021 Chính Phủ đã ban hành Nghị Dinh 21 hướng dan Bộ Luật Dân Sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Nghị Định 21/2021). Nghị Định 21/2021 đã thay thé Nghị Dinh 163 của Chính Phủ ngày 29/12/2006 về giao dich bảo đảm (Nghị Định 163/2006) từ ngày 15/5/2021. Trước đây các tô chức tín dụng áp 19 dụng Nghị định 163/2006/CP-NĐ về giao dịch bảo đảm và Nghị định 11/2012/ND- CP bồ sung, sửa đôi Nghị định 163.
Năm 2015, Bộ luật dân sự được ban hành mới và hoạt động giao dịch bảo đảm vẫn được thực hiện theo Nghị định cũ. Việc này dẫn đến nhiều bat cập, vướng mac trong hoạt động của các tô chức tín dụng. Do đó, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành văn bản mới thay thế Nghị định 163 cho phù hợp với thực tiễn. Quá trình xây dựng Nghị định 21, cơ quan soạn thảo đã lắng nghe, xem xét và tong hợp ý kiến các tổ chức tín dung, cơ bản các van dé vướng mắc được các ngân hàng nêu lên đã được giải quyết.
Nghị định bao gồm 5 chương, 62 điều, quy định rất sát với hoạt động tín dụng, giao dịch tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm. của các ngân hàng. Đồng thời Nghị định 21 tuy chưa thỏa mãn hết các van dé mà thực tiễn nêu ra nhưng đã cố gang tiếp thu hết mức để quy định phù hợp với hoạt động về giao dịch bảo đảm. Trong thời gian tới, chúng ta có thê tính tới việc xây dựng một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn chăng hạn Luật về giao dịch bảo đảm, khi đó sẽ giải quyết được nhiều vấn đề toàn diện hơn.
Với phạm vi điều chỉnh: “Nghị định này quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm tài sản bảo đảm; xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (sau đây gọi là biện pháp bảo đảm) và xử lý tài sản bảo đảm. Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN Như chúng ta đã biết, xử lý tài sản bảo đảm là một trong những nội dung rất quan trọng trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức, cá nhân với ngân hàng (hay còn gọi là các tổ chức tín dụng). Việc xử lý tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng thường phát sinh khi bên vay là t6 chức, cá nhân vi phạm nghĩa vụ của mình trong việc trả tiền gốc hoặc lãi hay nói cách khác là đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Hiện nay, các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm được thể hiện trong các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT- BTP - BTNMT- NHNN ngày 06/06/2014 của Bộ Tư 20 pháp, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm.
Ngày 16/6/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ tư Pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 16 / 2014 / TTLT-BTP- BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về XLTSBĐ. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 7 năm 2014, gồm có 3 chương, 14 Điều dé dé ra những hướng giải quyết. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự, có bốn phương thức dé xử lý tài sản bảo đảm cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thê thỏa thuận đó là: bán tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba.