Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm trong nghiên cứu 1. HIV/AIDS HIV (Human Immunodeficiency Virus): là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh (17). Hành vi nguy cơ cao: là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như QHTD không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lây nhiễm HIV(17).
Tỷ lệ nhiễm mới HIV: Tỷ lệ mới nhiễm được dùng để mô tả số mới nhiễm trên một trăm người-năm của khoảng thời gian quan sát (18). Tỷ lệ hiện nhiễm HIV: Thường được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm, lượng hóa phần trăm số người nhiễm HIV trong một quần thể dân cư tại một thời điểm cụ thể (18). Nam quan hệ tình dục đồng giới MSM (Men who have sex with men): là “nam quan hệ tình dục với nam”. “Nam có quan hệ tình dục với nam” là một thuật ngữ chỉ hành vi QHTD của những người có cơ thể sinh học là nam với những người khác cũng có cơ thể sinh học là nam (18).
Như vậy, thuật ngữ này chỉ đề cập tới những người nam giới có QHTD với người nam giới khác, không quan tâm tới việc họ có QHTD với phụ nữ hoặc có nhận dạng đồng tính nam “gay” hoặc “lưỡng tính”. Theo đó, những người đàn ông tự nhận là dị tính nhưng vẫn có QHTD với những người đàn ông khác cũng nằm trong khái niệm này. Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS: là việc thu thập thông tin định kỳ và hệ thống về các chỉ số dịch tễ học HIV/AIDS của các nhóm đối tượng có nguy cơ khác nhau để biết được chiều hướng và kết quả theo thời gian nhằm cung cấp thông tin cho việc 5 lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (19). Giám sát phát hiện HIV/AIDS: là việc thu thập thông tin liên quan đến đối tượng được xét nghiệm HIV có kết quả dương tính, người bệnh AIDS và người nhiễm HIV tử vong để cung cấp thông tin cho lập kế hoạch, dự phòng, chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV (19).
Giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi: là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống các câu hỏi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng được lựa chọn của GSTĐ HIV (19). Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 1.1 Trên thế giới Mặc dù có sự tiến bộ vượt bậc trong ứng phó toàn cầu với HIV, số người nhiễm HIV và tử vong liên quan đến AIDS vẫn ở mức cao. HIV/AIDS vẫn là một trong số những đại dịch nguy hiểm nhất của chúng ta (1). Ước tính số người hiện nhiễm HIV trên toàn cầu đến thời điểm cuối năm 2020 là 37,7 triệu người, cao tại Đông và Nam Phi 20,7 triệu người và 5,8 triệu người ở Châu Á – Thái Bình Dương.
Trong số này, 10,2 triệu người nhiễm HIV chưa được điều trị (1). Trên toàn cầu, số người nhiễm mới HIV đang có xu hướng giảm. Số ca nhiễm mới HIV năm 2020 là 1,5 triệu người, giảm 31% so với năm 1997 (1). Trong đó, các ca nhiễm mới ở nhiều quốc gia có gánh nặng về HIV/AIDS đã giảm đáng kể, giảm mạnh nhất tại tại Đông và Nam Châu Phi 43% (1).
Ngược lại, tại một số khu vực ghi nhận số ca nhiễm mới năm 2020 so với năm 2010 tăng 43% ở miền đông Châu Âu và Trung Á, tăng 7%% ở Trung Đông và Bắc Phi (1). 65% số ca nhiễm mới HIV ở người trưởng thành là thuộc các nhóm nguy cơ cao (người bán dâm, người NCMT, MSM, người chuyển giới) và bạn tình của họ (1). Năm 2020, toàn thế giới có 680.000 người tử vong liên quan đến AIDS, giảm 47% so với năm 2010. Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có tốc độ giảm tỷ lệ tử vong do AIDS cao nhất, giảm56%, đây cũng là nơi có quy mô mở rộng điều trị ARV nhanh (1).
6 Trong khi ca nhiễm mới ở nhóm NCMT năm 2020 là 11%, nhóm bán dâm là 9% thì báo động gần một phần tư (23%) ca nhiễm mới ở người trưởng thành là trong nhóm MSM. Nhóm dân số này chiếm đến 53% ca nhiễm HIV mới ở Châu Á – Thái Bình Dương và chiếm 3/4 (75%) ca nhiễm HIV mới ở Phương Tây, Trung Âu và Bắc Mỹ (1).2 Khu vực Châu Á và Thái Bình Dương Kết quả ứng phó chống lại dịch HIV ở Châu Á – Thái Bình Dương không đồng đều. Số người nhiễm mới HIV ở Thái Lan và Việt Nam đã giảm 50% kể từ năm 2010. Tuy nhiên, xu hướng trái ngược dịch HIV đang gia tăng nhanh chóng ở một số quốc gia khác như Indonesia, Pakistan và Philippine (1).
Những người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV và bạn tình, bạn TCMT chung của họ ước tính chiếm 94% các ca nhiễm mới HIV. Hơn một phần tư số ca nhiễm HIV mới (29%) thuộc nhóm dân số trẻ tuổi (15 – 24 tuổi) (1). Số ca nhiễm mới HIV trong khu vực năm 2020 giảm 21% so với năm 2010 (1). Tuy nhiên, số lượng ca nhiễm mới ngày càng tăng trong nhóm MSM (53%).
Bên cạnh đó, tỷ lệ hiện nhiễm HIV giai đoạn 2016 – 2020 cũng ghi nhận tỷ lệ tương đối cao trong nhóm MSM với 5,7% (1). Đây thực sự là mối quan tâm lớn của khu vực. Tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS giảm 56% kể từ năm 2010. Úc, Campuchia và Thái Lan đã đạt được 90–90–90 nhưng tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS đang tăng lên ở Afghanistan, Pakistan và Philippines.3 Tại Việt Nam HIV/AIDS hiện là vấn đề sức khỏe công cộng quan trọng, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam (20).
Kể từ ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có 215.220 người nhiễm HIV cần được chăm sóc, điều trị, 108.719 người nhiễm HIV đã tử vong. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ước tính là 0,3% (16,20). Số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện mới từng năm có xu hướng giảm từ năm 2007 đến 2020. Trong giai đoạn 2005 đến 2007, trung bình phát hiện mới được hơn 28.000 trường hợp nhiễm HIV một năm.
Giai đoạn 2008 đến 2012, số này 7 giảm còn hơn 17.000 trường hợp nhiễm HIV trong mỗi năm và từ 2012 đến 2020, trung bình 10.000 trường hợp nhiễm HIV được phát hiện mỗi năm (21). Riêng năm 2020, số lượng này là 13.160 người tử vong liên quan đến AIDS. Các trường hợp mới được phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ tuổi 16-29 (45%) và 30-39 (31%). Đường lây truyền HIV chủ yếu là QHTD không an toàn (75,8%).973 người nhiễm HIV đang được điều trị ARV (20,22).
Kết quả GSTĐ HIV cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm MSM tăng rất nhanh, từ 10,8% năm 2018 lên 13,2% năm 2020. Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD giảm chỉ còn 3,13% (2020) và nhóm TCMT là 12,7% (2019). Tại một số địa phương số trường hợp nhiễm HIV phát hiện hàng năm có chiều hướng tăng, đặc biệt ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (12,20). Nghiên cứu ước tính kích thước quần thể nhóm MSM tại Việt Nam năm 2018 ghi nhận có 178.
Tỷ lệ MSM trong nhóm nam giới trưởng thành lứa tuổi 15-49 ở Việt Nam là 0,68% (95% CI: 0,46-1,95) (23). Xu hướng các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm quan hệ tình dục đồng giới Nam quan hệ tình dục đồng giới có nguy cơ lây nhiễm HIV cao do các hành vi nguy cơ của họ, tập trung ở hành vi sử dụng ma túy và QHTD không an toàn. Ở khu vực châu Á, trong giai đoạn 2006 – 2013, nhiễm mới HIV ở nhóm MSM trẻ tuổi (dưới 21 tuổi) tại Thái Lan có chiều hướng đi lên qua các năm kèm theo hành vi SDMT (24). Tương tự, ở Nam Kinh, Trung Quốc, các khảo sát cắt ngang liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2017 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV vẫn duy trì ở mức cao cùng với tình trạng sử dụng popper tăng lên đáng kể và có nhiều bạn tình ở MSM (25).
Nhiều bằng chứng gần đây cho thấy sử dụng chemsex (sử dụng chất kích thích mephedrone, methamphetamine tinh thể và GHB/ GBL để tăng cường và kéo dài hoạt động tình dục) ngày càng gia tăng trong nhóm MSM. Chemsex có liên quan đến một số hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV như nhiều bạn tình, QHTD tập thể và QHTD không dùng BCS (26–29). Một nghiên cứu trên 2.121 MSM tại một trung tâm tư vấn xét nghiệm HIV ở Bỉ giai đoạn 2011-2017 cho thấy hành vi QHTD không dùng BCS tăng từ 8% lên 17% do ảnh hưởng của việc SDMT như thuốc lắc, amphetamine, ma túy lỏng GHB và cocaine. Cũng trong nghiên cứu này, QHTD không dùng BCS làm 8 tăng nguy cơ nhiễm HIV lên 5,7 lần (95%KTC: 3,2–10,4) (28).
Tại Thụy Sĩ, tỷ lệ SDMT ở nhóm MSM đã tăng từ 8,8% năm 2007 lên 13,8% năm 2017, đặc biệt với nhóm methamphetamine và ma túy lỏng GHB. Việc SDMT này có liên quan đáng kể đến QHTD không dùng BCS và tỷ lệ trầm cảm, giang mai và viêm gan C (29). Mặt khác, QHTD không an toàn cũng là nguyên nhân dẫn làm tăng tình trạng lây nhiễm HIV trong MSM. Phân tích từ 29 nghiên cứu hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV trong nhóm MSM ở Mỹ, Úc và Châu Âu giai đoạn 1990 – 2013 đã chỉ ra sự gia tăng trong QHTD qua đường hậu môn không sử dụng BCS và QHTD qua đường hậu môn với cặp bạn tình dị nhiễm HIV (30).
Tại châu Phi, Giám sát hành vi và chỉ số sinh học ở Nigeria 3 vòng (2007, 2010, 2014) cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV tăng cùng với xu hướng gia tăng hành vi QHTD qua đường hậu môn không sử dụng BCS và tỷ lệ mắc BLTQĐTD (31). Ở châu Âu, dữ liệu giám sát quốc gia tại 26 phòng khám BLTQĐTD của Hà Lan cho thấy tỷ lệ MSM có nhiều bạn tình gia tăng đáng kể, từ 65% (2007) lên 75% (2011) (2). Tại Tây Ban Nha, dữ liệu từ hệ thống giám sát HIV cho thấy QHTD đường hậu môn không sử dụng BCS tăng từ 13,6% (2002) lên 22,3% (2011). Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng MSM đang gia tăng việc tìm bạn tình có cùng tình trạng HIV (HIV dương tính hoặc HIV âm tính) để không phải dùng BCS.
Hành vi này làm tăng các BLTQĐTD cũng như các biến thể HIV, dẫn tới nguy cơ kháng thuốc nếu người nhiễm HIV không điều trị hiệu quả (32). Xu hướng nhiễm HIV ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới 1.