Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Huyện Vĩnh Thạnh, Tỉnh Bình Định (2001 - 2019)

Luận văn phân tích công cuộc xóa đói giảm nghèo tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giai đoạn 2001-2019, nêu rõ thành tựu và thách thức.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2019

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH (2001 - 2019)

1.1. Nhận thức về đói nghèo

1.1.1. Quan niệm về đói nghèo

1.1.2. Quan điểm và tiêu chí về đói nghèo

1.2. Thực trạng đói nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định trước năm 2001

1.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội

1.2.2. Thực trạng đói nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh trước 2001

1.3. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo

1.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

1.3.2. Chủ trương, chính sách của tỉnh Bình Định và huyện

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH (2001 – 2019)

2.1. Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 2001 - 2009

2.1.1. Công tác tuyên truyền, vận động

2.1.2. Tổ chức lại sản xuất, giải quyết chính sách về kinh tế và tạo việc làm cho nhân dân

2.1.3. Thực hiện các chính sách về văn hóa - xã hội

2.2. Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 2009 - 2019

2.2.1. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất

2.2.2. Thực hiện các biện pháp phát triển rừng, nghề rừng, nông - lâm kết hợp

2.2.3. Phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế văn hoá và bảo vệ môi trường

2.3. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH (2001 - 2019)

3.1. Thành tựu và hạn chế

3.2. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

3.2.1. Nguyên nhân của thành tựu

3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

3.2.3. Bài học kinh nghiệm

3.3. Đề xuất, kiến nghị

3.3.1. Về cơ chế chính sách

3.3.2. Về bố trí nguồn lực

3.3.3. Về tổ chức chỉ đạo thực hiện

3.4. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Xóa Đói Giảm Nghèo Vĩnh Thạnh 2001 2019

Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, xóa đói giảm nghèo luôn là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, cũng không nằm ngoài nỗ lực này. Bài viết này sẽ đi sâu vào quá trình xóa đói giảm nghèo Vĩnh Thạnh giai đoạn 2001-2019, phân tích thành tựu, thách thức và bài học kinh nghiệm. Mục tiêu là cung cấp cái nhìn toàn diện về công cuộc này, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị thiết thực cho tương lai. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Theo văn kiện Đại hội IX (2001) của Đảng, cần khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật và thực hiện hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo.

1.1. Quan Niệm Về Đói Nghèo Định Nghĩa và Bản Chất

Đói là tình trạng thiếu hụt nhu cầu vật chất tối thiểu để duy trì cuộc sống. Nghèo là tình trạng thiếu điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, có mức sống thấp hơn cộng đồng. Tổ chức UNDP định nghĩa nghèo là thiếu các quyền cơ bản và thu nhập tối thiểu. Xóa đói là giải quyết nhu cầu ăn uống hàng ngày, còn giảm nghèo là cải thiện các điều kiện sống khác như y tế, giáo dục, nhà ở. Cần phân biệt rõ các khái niệm này để có chính sách phù hợp. Khi đã vượt đói phải tiếp tục thực hiện các biện pháp trợ giúp chống tái đói.

1.2. Tiêu Chí Đánh Giá Đói Nghèo Chuẩn Nghèo Việt Nam

Tiêu chí đánh giá đói nghèo thay đổi theo thời gian và địa điểm. Ngân hàng Thế giới (WB) sử dụng mức chi phí lương thực để duy trì cuộc sống (2100-2300 calo/ngày/người). Việt Nam có nhiều chuẩn nghèo khác nhau qua các giai đoạn. Năm 1993, mức thu nhập tối thiểu là 50.000 đồng/người/tháng (nông thôn) và 70.000 đồng/người/tháng (thành thị). Đến năm 2000, chuẩn nghèo là 80.000 đồng/người/tháng (nông thôn miền núi), 100.000 đồng/người/tháng (nông thôn đồng bằng) và 150.000 đồng/người/tháng (thành thị). Năm 2011, chuẩn hộ nghèo ở nông thôn là 400.000 đồng/người/tháng. Các tiêu chuẩn này phản ánh sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội.

II. Thách Thức Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Vĩnh Thạnh Điểm Nghẽn

Huyện Vĩnh Thạnh là một huyện nghèo của tỉnh Bình Định, với tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với cả nước. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và đạt được những thành tựu nhất định, công tác xóa đói giảm nghèo vẫn còn nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu vốn sản xuất, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, và ảnh hưởng của thiên tai là những rào cản lớn. Cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để vượt qua những thách thức này. Huyện đã có những chính sách gì, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xóa đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo.

2.1. Kinh Tế Xã Hội Vĩnh Thạnh Thực Trạng Trước 2001

Trước năm 2001, kinh tế xã hội Vĩnh Thạnh còn nhiều khó khăn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, năng suất thấp. Cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước còn thiếu thốn. Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao. Đời sống của người dân còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Tình trạng này đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh mẽ và toàn diện để cải thiện.

2.2. Dân Tộc Thiểu Số Vĩnh Thạnh Khó Khăn Đặc Thù

Vĩnh Thạnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số (Bana, Hre...), đời sống còn nhiều khó khăn. Các vấn đề như thiếu đất sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, và khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội là những thách thức đặc thù. Cần có những chính sách ưu tiên và hỗ trợ đặc biệt để giúp đồng bào dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo.

III. Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Vĩnh Thạnh Giai Đoạn 2001 2009

Giai đoạn 2001-2009, huyện Vĩnh Thạnh tập trung vào các giải pháp như tuyên truyền vận động, tổ chức lại sản xuất, giải quyết chính sách kinh tế và tạo việc làm. Các chính sách văn hóa - xã hội cũng được chú trọng. Mục tiêu là nâng cao nhận thức của người dân, tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Trong giai đoạn này, công tác tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh.

3.1. Tuyên Truyền Vận Động Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng

Công tác tuyên truyền vận động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về xóa đói giảm nghèo. Các hình thức tuyên truyền đa dạng như hội nghị, hội thảo, phát tờ rơi, và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các mô hình sản xuất hiệu quả, và các tấm gương điển hình trong xóa đói giảm nghèo.

3.2. Tổ Chức Sản Xuất Tạo Việc Làm Tăng Thu Nhập

Tổ chức lại sản xuất là một giải pháp quan trọng để tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Các hoạt động như khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, và dịch vụ được đẩy mạnh. Hỗ trợ vốn, kỹ thuật, và thị trường cho người dân để họ có thể sản xuất hiệu quả. Giải quyết chính sách về kinh tế và tạo việc làm cho nhân dân.

IV. Biện Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Vĩnh Thạnh Giai Đoạn 2009 2019

Giai đoạn 2009-2019, huyện Vĩnh Thạnh tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển rừng, nghề rừng, nông - lâm kết hợp, và phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường. Mục tiêu là tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, và bảo vệ môi trường bền vững. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất.

4.1. Phát Triển Hạ Tầng Điện Đường Trường Trạm

Phát triển cơ sở hạ tầng là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế Vĩnh Thạnhxóa đói giảm nghèo. Các công trình như điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng và nâng cấp. Giao thông thuận tiện giúp người dân dễ dàng tiếp cận thị trường và các dịch vụ xã hội. Điện giúp cải thiện điều kiện sinh hoạt và sản xuất. Trường học giúp nâng cao trình độ dân trí. Trạm y tế giúp chăm sóc sức khỏe cho người dân.

4.2. Phát Triển Nông Lâm Nghiệp Bền Vững và Hiệu Quả

Phát triển nông - lâm nghiệp bền vững và hiệu quả là một giải pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèoVĩnh Thạnh. Các hoạt động như trồng rừng, bảo vệ rừng, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao được khuyến khích. Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế văn hoá và bảo vệ môi trường.

V. Thành Tựu Xóa Đói Giảm Nghèo Vĩnh Thạnh Kết Quả Nổi Bật

Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giai đoạn 2001-2019. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, và các dịch vụ xã hội được mở rộng. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững. Kinh tế xã hội của huyện có nhiều chuyển biến, góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao.

5.1. Giảm Tỷ Lệ Hộ Nghèo Con Số Biết Nói

Một trong những thành tựu nổi bật nhất là giảm tỷ lệ hộ nghèo. Từ một huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao, Vĩnh Thạnh đã giảm đáng kể số lượng hộ nghèo nhờ các chính sách và giải pháp hiệu quả. Con số này cho thấy sự nỗ lực và quyết tâm của chính quyền và người dân trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.

5.2. Nâng Cao Đời Sống Vật Chất và Tinh Thần

Đời sống của người dân Vĩnh Thạnh được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, nhà ở được xây dựng và sửa chữa, các dịch vụ y tế, giáo dục được tiếp cận dễ dàng hơn. Đời sống văn hóa, tinh thần cũng được cải thiện với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức.

VI. Bài Học Kinh Nghiệm và Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững

Từ thực tiễn công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, sự tham gia tích cực của người dân, và sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành. Cần có những giải pháp sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, và đảm bảo tính bền vững. Với tình hình đặt ra như vậy, huyện đã có những chính sách gì, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xóa đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo.

6.1. Cơ Chế Chính Sách Linh Hoạt và Phù Hợp

Cần có cơ chế chính sách linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của Vĩnh Thạnh. Các chính sách cần được điều chỉnh và bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các nguồn vốn, kỹ thuật, và thị trường. Về cơ chế chính sách cần có sự đổi mới.

6.2. Nguồn Lực Đầu Tư Hiệu Quả và Bền Vững

Cần đảm bảo nguồn lực đầu tư hiệu quả và bền vững cho công tác xóa đói giảm nghèo. Các nguồn vốn cần được sử dụng đúng mục đích, tránh lãng phí và thất thoát. Cần khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Về bố trí nguồn lực cần có sự phân bổ hợp lý.

05/06/2025
Luận văn công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện vĩnh thạnh tỉnh bình định 2001 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyệnVĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001 - 2019) Chương 2: Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001 - 2019) Chương 3:Nhận xét công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001- 2019) 8 Chương1 CƠ SỞ THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH (2001 - 2019) 1.Nhận thức về đói nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng người không có ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Hiểu một cách khác nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.Tổ chức Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau: Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác [71, tr. Xóa đói là cơ bản giải quyết cái ăn hàng ngày, không để bị đứt bữa, hạn chế dần việc vay nợ cộng đồng nhưng khả năng thiếu chi trả.

Khi đã vượt đói phải tiếp tục thực hiện các biện pháp trợ giúp chống tái đói [5, tr. 9 Giảm nghèo là tiếp tục lo cái ăn, giải quyết việc làm thường xuyên và từng bước cải thiện dần các điều kiện thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: chăm sóc sức khỏe, học hành, nhà ở và mức hưởng thụ văn hóa. Quan điểm và tiêu chí về đói nghèo Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những quốc gia giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo.

Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại [71, tr. Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế -xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [2, tr.

Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. 10 Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định.

Chuẩn mực đói nghèo của 1 số nước trên thế giới: Theo Ngân hàng thế giới (WB), từ những năm 80 của thế kỷ XX, chuẩn mực để xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm. Ở Ấn Độ: lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày. Ở BănglaĐesh: lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày. Ở In-đô-nê-xi-a: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2100calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định ranh giới giữa giàu với nghèo.

Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150calo/người/ngày. Các nước công nghiệp phát triển Châu Âu: 2570 calo/người/ngày. Năm 1993, ở Việt Nam, theo Tổng cục thống kê lấy mức tiêu dùng là 2100 calo nếu quy đổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù hợp với từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt nam phải có mức thu nhập bình quân tối thiểu là 50.000 đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và 70.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị, để làm ranh giới xác định giữa người giàu và người nghèo. 11 Theo cách tình này thì mức thu nhập bình quân đầu người ở các hộ khu vực nông thôn nước ta được quy ra tiền để xác định ranh giới giữa những hộ giàu và hộ nghèo như sau: Loại hộ nghèo: có mức thu nhập bình quân dưới 50.000/người/tháng.000/người/tháng.

Loại hộ dưới trung bình: có thu nhập bình quân từ 50.000/người/tháng. Loại hộ trung bình: có mức thu nhập bình quân đầu người từ 70.000/người/tháng. Loại hộ trên trung bình: có mức thu nhập bình quân từ 125.000/người/tháng. Loại hộ giàu:có thu nhập từ 250.000/người/tháng trở lên.

Ngày20/05/1997, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ra thông báo số1751/LĐ-TB&XH về chuẩn đói nghèo như sau: Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân theo đầu người dưới 13kg gạo/tháng tương đương 45.000/tháng đối với tất cả các vùng. Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người; 15kg gạo/người/tháng tương đương 55.000 ở khu vực nông thôn, miền núi;20kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du; 25kg gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị. Tại quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 1/11/2000 của Bộ Trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001 - 2005 theo mức thu nhập bình quân đầu người cho từng vùng cụ thể như sau: Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng tương đương 960. Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng tương đương 1.

12 Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng tương đương 1. Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nước có khoảng 4 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ từ 24 – 25% tổng số hộ trong cả nước. Trong đó 4 vùng có tỷ lệ đói nghèo trên 30%. Năm 2005, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, trong đó quy định như sau: Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo[5, tr. Đến năm 2011 chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được quy định lại theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Đến năm 2015 chuẩn hộ nghèo và cận nghèo được quy định lại theo Quyết định số 59/2015/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng (từ 8.000 đồng/người/năm) trở xuống.

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng (từ 10.000 đồng/người/năm) trở xuống. Chuẩn mực đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận điều kiện kinh tế và thời gian quy định. 13 Xóa đói, giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và hệ thống các chính sách nhằm khắc phục tình trạng đói nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp. Xóa đói là làm cho một bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.

Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỉ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận cư dân nghèo lên mức sống cao hơn. Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này là: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thì đồng thời cũng xóa được đói.

Cho nên, thực chất xóa đói, giảm nghèo là một. Thực trạng đói nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định trước năm 2001 1.Tình hình kinh tế - xã hội 1. Tình hình kinh tế Khi mới tái lập huyện năm 1981, kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Thạnh còn nhiều hạn chế, yếu kém.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Huyện Vĩnh Thạnh, Tỉnh Bình Định (2001 - 2019): Thành Tựu và Thách Thức" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thành tựu và thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Vĩnh Thạnh trong khoảng thời gian 18 năm. Tài liệu nêu bật các chính sách, chương trình đã được triển khai, cũng như những kết quả đạt được trong việc cải thiện đời sống của người dân. Đặc biệt, nó chỉ ra những khó khăn còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong tương lai.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề xóa đói giảm nghèo, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hiệu quả xóa đói giảm nghèo từ các dự án phát triển nông thôn tại hà tĩnh, nơi phân tích hiệu quả của các dự án nông thôn trong việc giảm nghèo. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện đồng văn tỉnh hà giang cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp và chính sách đã được áp dụng tại một khu vực khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số việt nam thực trạng và giải pháp, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số.

Mỗi tài liệu liên kết đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của công tác xóa đói giảm nghèo, từ đó mở rộng kiến thức và hiểu biết của mình về vấn đề này.