Chương 1: Cơ sở thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyệnVĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001 - 2019) Chương 2: Quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001 - 2019) Chương 3:Nhận xét công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (2001- 2019) 8 Chương1 CƠ SỞ THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH (2001 - 2019) 1.Nhận thức về đói nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng người không có ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Hiểu một cách khác nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.Tổ chức Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau: Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác [71, tr. Xóa đói là cơ bản giải quyết cái ăn hàng ngày, không để bị đứt bữa, hạn chế dần việc vay nợ cộng đồng nhưng khả năng thiếu chi trả.
Khi đã vượt đói phải tiếp tục thực hiện các biện pháp trợ giúp chống tái đói [5, tr. 9 Giảm nghèo là tiếp tục lo cái ăn, giải quyết việc làm thường xuyên và từng bước cải thiện dần các điều kiện thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: chăm sóc sức khỏe, học hành, nhà ở và mức hưởng thụ văn hóa. Quan điểm và tiêu chí về đói nghèo Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những quốc gia giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo.
Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan Mạch, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại [71, tr. Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế -xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [2, tr.
Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. 10 Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định.
Chuẩn mực đói nghèo của 1 số nước trên thế giới: Theo Ngân hàng thế giới (WB), từ những năm 80 của thế kỷ XX, chuẩn mực để xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm. Ở Ấn Độ: lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày. Ở BănglaĐesh: lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày. Ở In-đô-nê-xi-a: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2100calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định ranh giới giữa giàu với nghèo.
Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150calo/người/ngày. Các nước công nghiệp phát triển Châu Âu: 2570 calo/người/ngày. Năm 1993, ở Việt Nam, theo Tổng cục thống kê lấy mức tiêu dùng là 2100 calo nếu quy đổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù hợp với từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt nam phải có mức thu nhập bình quân tối thiểu là 50.000 đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và 70.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị, để làm ranh giới xác định giữa người giàu và người nghèo. 11 Theo cách tình này thì mức thu nhập bình quân đầu người ở các hộ khu vực nông thôn nước ta được quy ra tiền để xác định ranh giới giữa những hộ giàu và hộ nghèo như sau: Loại hộ nghèo: có mức thu nhập bình quân dưới 50.000/người/tháng.000/người/tháng.
Loại hộ dưới trung bình: có thu nhập bình quân từ 50.000/người/tháng. Loại hộ trung bình: có mức thu nhập bình quân đầu người từ 70.000/người/tháng. Loại hộ trên trung bình: có mức thu nhập bình quân từ 125.000/người/tháng. Loại hộ giàu:có thu nhập từ 250.000/người/tháng trở lên.
Ngày20/05/1997, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ra thông báo số1751/LĐ-TB&XH về chuẩn đói nghèo như sau: Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân theo đầu người dưới 13kg gạo/tháng tương đương 45.000/tháng đối với tất cả các vùng. Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người; 15kg gạo/người/tháng tương đương 55.000 ở khu vực nông thôn, miền núi;20kg gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du; 25kg gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị. Tại quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 1/11/2000 của Bộ Trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001 - 2005 theo mức thu nhập bình quân đầu người cho từng vùng cụ thể như sau: Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng tương đương 960. Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng tương đương 1.
12 Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng tương đương 1. Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nước có khoảng 4 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ từ 24 – 25% tổng số hộ trong cả nước. Trong đó 4 vùng có tỷ lệ đói nghèo trên 30%. Năm 2005, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, trong đó quy định như sau: Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo[5, tr. Đến năm 2011 chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được quy định lại theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Đến năm 2015 chuẩn hộ nghèo và cận nghèo được quy định lại theo Quyết định số 59/2015/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng (từ 8.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng (từ 10.000 đồng/người/năm) trở xuống. Chuẩn mực đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận điều kiện kinh tế và thời gian quy định. 13 Xóa đói, giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và hệ thống các chính sách nhằm khắc phục tình trạng đói nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp. Xóa đói là làm cho một bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỉ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận cư dân nghèo lên mức sống cao hơn. Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này là: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thì đồng thời cũng xóa được đói.
Cho nên, thực chất xóa đói, giảm nghèo là một. Thực trạng đói nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định trước năm 2001 1.Tình hình kinh tế - xã hội 1. Tình hình kinh tế Khi mới tái lập huyện năm 1981, kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Thạnh còn nhiều hạn chế, yếu kém.