Tổng quan nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn mang tính chiến lược xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tại tỉnh Bình Định, huyện Vĩnh Thạnh là một địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa có điểm xuất phát điểm kinh tế - xã hội rất thấp. Năm 1996, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm tới 22,1% với 1.116 hộ, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Bah Nar, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi lối sống du canh du cư và tập quán canh tác lạc hậu. Vấn đề nghèo đói tại địa phương không chỉ giới hạn ở sự thiếu hụt thu nhập mà còn thể hiện qua sự hạn chế trong tiếp cận hạ tầng cơ sở, y tế, giáo dục và kỹ thuật sản xuất.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa và làm sáng tỏ tiến trình chỉ đạo, triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh từ năm 2001 đến năm 2019. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng đời sống của người dân qua các chỉ số thu nhập bình quân đầu người từ mức dưới 1.000.000 đồng/người/năm trong những năm cuối thập niên 1990 lên các mức cao hơn theo chuẩn nghèo đa chiều. Đồng thời, đề tài đánh giá toàn diện những thành tựu đạt được, chỉ ra những mặt tồn tại và nguyên nhân dẫn đến nguy cơ tái nghèo. Về mặt khoa học và thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực giúp các cấp quản lý đo lường hiệu quả của các chương trình mục tiêu quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc nhằm đẩy mạnh quá trình giảm nghèo bền vững tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết phát triển con người, quan điểm tiếp cận nghèo đa chiều của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc và khung phân tích giảm nghèo của Ngân hàng Thế giới. Nghiên cứu vận dụng định nghĩa của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Xã hội tại Copenhagen năm 1995, khẳng định giảm nghèo là một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, chính trị và kinh tế. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng quan niệm của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương về tình trạng nghèo đói là sự không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người theo chuẩn mực xã hội thừa nhận.

Khung khái niệm trọng tâm của nghiên cứu bao gồm bốn trụ cột: Đói nghèo tuyệt đối, Nghèo tương đối, Xóa đói giảm nghèo bền vững và Chuẩn nghèo đa chiều. Đói được xác định là trạng thái không đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu từ 2.100 đến 2.300 calo/người/ngày hoặc mức thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng. Nghèo là trạng thái thiếu hụt các nguồn lực kinh tế và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Luận văn theo sát sự chuyển biến của hệ thống pháp lý Việt Nam, từ Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH với chuẩn nghèo miền núi 80.000 đồng/người/tháng, qua Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg với mức 200.000 đồng/người/tháng, Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg với mức 400.000 đồng/người/tháng, đến Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg xác lập chuẩn nghèo đa chiều nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, các nghị quyết, quyết định của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định cùng hơn 50 báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thạnh từ năm 2001 đến năm 2019. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu hành chính của toàn bộ 9 xã và thị trấn trên địa bàn huyện, theo dõi quá trình hỗ trợ sinh kế của hơn 1.926 hộ gia đình nhận khoán rừng và hơn 1.000 lượt hộ nghèo vay vốn sản xuất qua các thời kỳ. Phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp chọn mẫu theo mục đích được áp dụng để khảo sát thực địa tại các làng vùng cao như Kon Trú, K2, K4, Suối Đá và Đăk Xung.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, lấy phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm công cụ chủ đạo, kết hợp cùng phương pháp thống kê, phân tích định lượng, so sánh đối chiếu và điều tra điền dã thực tế. Lý do lựa chọn phương pháp lịch sử kết hợp phân tích logic là nhằm tái hiện một cách khách quan, chân thực và có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử 19 năm thực hiện chính sách giảm nghèo tại Vĩnh Thạnh. Sự hỗ trợ của phương pháp thống kê định lượng giúp lượng hóa chính xác các biến chuyển về tỷ lệ hộ nghèo, nguồn vốn giải ngân và sản lượng nông - lâm nghiệp, đảm bảo tính xác thực cao cho các luận điểm khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Thạnh đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp một cách rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2010 - 2015 đạt bình quân 11,8%/năm, vượt 0,1% kế hoạch và cao hơn 5,4% so với giai đoạn 2006 - 2010. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2015 đạt 16.557,3 tấn, tăng 16,2% so với năm 2010; trong đó năng suất lúa bình quân đạt 56,5 tạ/ha trên diện tích gieo trồng 2.443,4 ha.

Thứ hai, hạ tầng kinh tế - xã hội vùng nông thôn miền núi có bước đột phá mang tính lịch sử. Giai đoạn 2009 - 2019, huyện đã triển khai xây dựng 27 công trình giao thông với tổng kinh phí 4.243,65 triệu đồng, 113 công trình thủy lợi với số vốn 69.276 triệu đồng và đầu tư hơn 62.887 triệu đồng cho hệ thống điện, nước sạch. Trong giai đoạn 2005 - 2009, huyện đã thực hiện xóa 941 nhà tạm với doanh số cho vay đạt 34.632 triệu đồng, đồng thời hỗ trợ 1,168 tỷ đồng xây nhà ở cho 146 hộ nghèo dân tộc thiểu số theo Chương trình 134.

Thứ ba, việc gắn kết quản lý bảo vệ rừng với tạo sinh kế đạt kết quả vượt bậc. Luận văn ghi nhận huyện đã giao khoán quản lý bảo vệ 22.505,66 ha rừng cho 1.926 hộ gia đình và 29 tập thể cộng đồng. Đến năm 2015, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt tới 66,3%. Chính quyền địa phương đã hỗ trợ 727 triệu đồng tiền gạo cho 422 hộ nghèo nhận khoán bảo vệ rừng, giúp người dân an tâm giữ rừng và hưởng lợi bền vững từ lâm sản phụ.

Thứ tư, an sinh xã hội, giáo dục và y tế có chuyển biến sâu sắc. Năm 2009, toàn huyện đã cấp 16.050 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm ngoạn mục từ 56,3% năm 1996 xuống 40% năm 2000 và còn 28,26% năm 2008. Công tác giáo dục ghi nhận tỷ lệ xóa mù chữ đạt 100%, phổ cập trung học cơ sở được giữ vững tại 6/9 xã, thị trấn năm 2009 và thực hiện miễn giảm học phí cho 3.947 học sinh năm 2018 với ngân sách hơn 663 triệu đồng.

Thảo luận kết quả

Thành công của công cuộc giảm nghèo tại Vĩnh Thạnh xuất phát từ sự chỉ đạo tập trung, linh hoạt của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện thông qua các Quyết định số 274/QĐ-UBND, Quyết định số 402/QĐ-UBND, cùng việc lồng ghép nguồn lực đa dạng từ Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và Chương trình 135. Dữ liệu thực chứng của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường thể hiện đà giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22,1% năm 1996 xuống 9% năm 2000, kết hợp bảng thống kê cơ cấu vốn đầu tư hạ tầng, trong đó vốn thủy lợi chiếm tỷ trọng áp đảo với hơn 69,2 tỷ đồng, phản ánh đúng trọng tâm giải quyết bài toán tưới tiêu và an ninh lương thực miền núi.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng cao miền Trung, mô hình của Vĩnh Thạnh cho thấy tính ưu việt trong việc kết hợp trồng lúa nước khai hoang với phát triển cây keo lai giâm hom, bắp lai CP 333 và dự án chăn nuôi bò vỗ béo. Tuy nhiên, thảo luận cũng chỉ ra rằng kết quả giảm nghèo chưa thực sự đồng đều. Nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu do địa bàn thường xuyên chịu tác động của bão lũ, biến động giá nông sản và tâm lý ỷ lại vào trợ cấp của một bộ phận người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế tín dụng chính sách và hỗ trợ đất sản xuất. Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thạnh cần phối hợp chặt chẽ với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội nâng hạn mức cho vay ưu đãi lên 50 đến 100 triệu đồng/hộ, tập trung vào các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đặt mục tiêu tạo việc làm mới cho hơn 300 lao động mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và nhân rộng mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì nhân rộng các mô hình nuôi bò thịt vỗ béo, nuôi lươn không bùn và trồng thâm canh cây ăn quả có múi tại các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Hảo, Vĩnh Thịnh, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị nông - lâm nghiệp từ 10% đến 12%/năm giai đoạn 2021 - 2030.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực quản lý bảo vệ rừng gắn với phát triển du lịch sinh thái. Ban Quản lý rừng phòng hộ và Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh duy trì diện tích giao khoán hơn 26.000 ha rừng, chi trả đầy đủ dịch vụ môi trường rừng, nâng mức thu nhập từ nghề rừng cho 2.000 hộ nhận khoán lên mức 15 đến 20 triệu đồng/hộ/năm vào năm 2025.

Thứ tư, đổi mới phương thức đào tạo nghề và kết nối việc làm. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp cùng các cơ sở đào tạo tổ chức dạy nghề lưu động gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế, đào tạo nghề sơ cấp cho ít nhất 500 lao động nông thôn hàng năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt 45% vào năm 2025 và 55% vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh Bình Định và Ủy ban nhân dân các huyện miền núi. Luận văn cung cấp bức tranh thực tiễn toàn diện, giúp định hình các giải pháp triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2030 phù hợp với đặc thù đồng bào thiểu số.

Nhóm 2: Các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Kinh tế phát triển, Chính sách công và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật về tiến trình hiện đại hóa nông thôn miền núi và chính sách dân tộc tại khu vực Nam Trung Bộ.

Nhóm 3: Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên thực hiện đề tài tốt nghiệp trong các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn. Công trình cung cấp phương pháp tiếp cận logic, phương pháp xử lý dữ liệu lưu trữ kết hợp điền dã thực địa chuẩn mực.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội phát triển cộng đồng và doanh nghiệp xã hội. Luận văn đem lại nguồn dữ liệu khảo sát tin cậy về nhu cầu sinh kế, hạ tầng và giáo dục, làm căn cứ thiết kế các dự án tài trợ phát triển bền vững cho cộng đồng người Bah Nar.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Vĩnh Thạnh chuyển biến như thế nào qua các giai đoạn? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm mạnh từ mức 22,1% năm 1996 xuống còn 20,9% năm 1997 và đạt mức 9% vào năm 2000, cơ bản xóa bỏ tình trạng đói kinh niên. Trong giai đoạn 2001 - 2019, mặc dù chuẩn nghèo liên tục được nâng cao theo các tiêu chí đa chiều, huyện vẫn duy trì đà giảm nghèo ổn định nhờ các gói hỗ trợ kịp thời.

Chính sách nào tạo động lực then chốt cho công tác giảm nghèo tại huyện? Chương trình 135 và Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ giữ vai trò trụ cột quyết định. Các chính sách này đã cung cấp nguồn vốn xây dựng 113 công trình thủy lợi với kinh phí 69.276 triệu đồng, 27 công trình giao thông với 4.243,65 triệu đồng và mở rộng các dự án định canh định cư cho hàng trăm hộ dân.

Mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp mang lại giá trị thực tế ra sao cho người dân? Mô hình đã thúc đẩy giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng 11,8%/năm giai đoạn 2010 - 2015. Việc đưa giống lúa mới, bắp lai CP 333, măng tre điền trúc và cây cao su vào canh tác, kết hợp chăn nuôi bò lai đã giúp hàng trăm hộ gia đình đạt mức thu nhập từ 30 đến 40 triệu đồng mỗi năm.

Huyện Vĩnh Thạnh đã thực hiện giải pháp gì để giải quyết vấn đề nhà ở và đất sản xuất? Huyện đã tổ chức khai hoang 16 ha ruộng nước tại làng Hà Rơn và Klot Pok, đồng thời giao khoán 22.505,66 ha rừng cho 1.926 hộ quản lý. Trong giai đoạn 2005 - 2009, huyện giải quyết xóa 941 nhà tạm với doanh số cho vay 34.632 triệu đồng, hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho hàng trăm hộ nghèo khó khăn.

Các chính sách y tế và giáo dục đã hỗ trợ người nghèo tại địa phương như thế nào? Ngành y tế đã cấp hơn 16.050 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo năm 2009 và hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống 28,26% năm 2008. Về giáo dục, huyện hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và thực hiện chính sách miễn giảm học phí cho 3.947 học sinh năm 2018 với kinh phí hơn 663 triệu đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chính sách và tiến trình lịch sử công cuộc xóa đói giảm nghèo tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giai đoạn 2001 - 2019.
  • Nghiên cứu phản ánh trung thực những thành tựu nổi bật: đầu tư 113 công trình thủy lợi, 27 công trình giao thông, giao khoán hơn 22.505 ha rừng và nâng độ che phủ rừng lên 66,3%.
  • Công trình đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc về việc kết hợp nội lực nhân dân với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, tổ chức sản xuất phù hợp với tập quán đồng bào thiểu số.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học xác thực, làm cơ sở hoạch định chính sách an sinh xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Thạnh tầm nhìn 2025 - 2030.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về đánh giá hiệu quả giảm nghèo đa chiều bao trùm trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số nông thôn miền núi.

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và người học quan tâm đến lịch sử kinh tế - xã hội miền núi Việt Nam. Quý độc giả hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình để tiếp cận sâu sắc hệ thống số liệu và bài học thực tiễn quý báu này.