Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Xét xử là từ Hán Việt, được hiểu là sự xem xét và phân xử của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Toà án). Theo Từ điển Tiếng Việt thì “xét xử” là việc “xét tội lỗi rồi phân xử”.
Như vậy, ý nghĩa của xét xử chính là việc một “người” nào đó đóng vai trò chủ thể tiến hành xem xét sự việc, phân định phải trái rồi phán quyết [61]. Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua hoạt động bảo vệ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp; trong đó, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Tòa án được xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, theo nghĩa chức năng xét xử của Tòa án có tính quyết định trong thực hiện quyền tư pháp, còn hoạt động tư pháp của các cơ quan khác chỉ là nhằm thực hiện quyền tư pháp. Nói cách khác, xét xử là chức năng được pháp luật giao duy nhất cho Toà án, Tòa án nhân danh Nhà nước tiến hành việc xét xử.
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013: 1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý,… [45].
9 Để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2014 cũng quy định "Tòa án Nhân dân Tối cao, các Tòa án Nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật”. Còn tại Điều 9 BLTTHS năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chỉ hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Quốc gia Hà Nội thì giai đoạn tố tụng hình sự được hiểu: Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [18].
Việc xét xử của Tòa án được thực hiện không chỉ đối với VAHS mà còn xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Đối tượng xét xử là yếu tố để phân định sự khác nhau giữa xét xử VAHS với xét xử các loại án khác. Đối tượng xét xử của VAHS là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Việc Tòa án tiến hành các thủ tục xét xử VAHS được gọi chung là hoạt động xét xử hình sự.
Theo các quy định trên, thì xét xử là một hoạt động đặc thù của Nhà nước, là chức năng được Nhà nước giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện đó là Tòa án. Việc tuyên bố một người là có tội và phải chịu hình phạt nhất thiết phải được thực hiện thông qua hoạt động xét xử và quyết định bằng một bản án. Như vậy, xét xử là hoạt động của Tòa án nhân danh Nhà nước để xem xét và ra phán quyết 10 đối với các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính. Việc xét xử phải được tiến hành tuân thủ các trình tự thủ tục (như thụ lý hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị xét xử, xét xử tại phiên tòa) theo quy định của pháp luật.
Hoạt động xét xử VAHS tại phiên tòa bắt buộc phải tiến hành thông qua các thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án, tuyên án và phải tuân thủ các nguyên tắc: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử công khai, trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật;. Thông qua các thủ tục tố tụng do pháp luật luật quy định, căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung (luật hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,.), Tòa án (HĐXX) nhân danh Nhà nước ra bản án để phán xét một hành vi nào đó là tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội; phán quyết về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi; xác định tính có căn cứ hay không đối với các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,. Xét về bản chất thì hoạt động xét xử của Tòa án theo chức năng Hiến định chính là hoạt động áp dụng pháp luật. Xét xử được hiểu là một quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án nhân danh Nhà nước nhằm xem xét và ra phán quyết về các vụ án.
Để đảm bảo cho việc xét xử được khách quan, công bằng, nghiêm minh và đúng pháp luật, theo quy định của pháp luật hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành theo các thủ tục: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo t nh tự phúc thẩm. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định th có hiệu lực pháp luật nhưng nếu có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp th vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Như vậy, xét xử h nh sự sơ thẩm là cấp thủ tục xét xử l n đ u do T a án có thẩm quyền tiến hành đối với vụ án h nh sự nhằm xử lý tội phạm nghiêm 11 minh và giải quyết tất cả các vấn đề về trách nhiệm pháp lý phát sinh từ hành vi phạm tội.
Đây cũng là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự và được bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi Tòa án ra bản án hình sự sơ thẩm kết tội bị cáo hoặc tuyên không phạm tội. So với các giai đoạn (thủ tục) xét xử khác, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hầu hết những người tham gia tố tụng đều được triệu tập để tham gia phiên tòa và tất cả các nguyên tắc của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đều được áp dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải mọi trường hợp xét xử sơ thẩm đều là xét xử lần đầu, trường hợp Tòa án có thẩm quyền xem xét, xét xử và quyết định hủy bản án để điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại (Điều 250, 287, 300 BLTTHS năm 2003) thì lúc đó việc xét xử sơ thẩm không còn là xét xử lần đầu. * Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi.
Với vai trò và thẩm quyền hiến định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102 Hiến pháp năm 2013), chỉ tòa án với bản án của mình mới có thẩm quyền coi một người có tội và phải chịu hình phạt hay không đòi hỏi phải đưa họ ra xét xử trước phiên tòa, trước hết là ở phiên tòa sơ thẩm. Trong khoa học Luật TTHS, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là giai đoạn TTHS quan trọng do Tòa án thực hiện lần đầu ở cấp xét xử thứ nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ, các tài liệu của vụ án hình sự, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định có hành vi phạm tội hay không, người thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hình sự. Hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự được thể hiện tập trung cao nhất là hoạt động xét xử tại phiên tòa, bởi vì tại phiên tòa, sau khi nghiêm cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết, chứng cứ của vụ án một cách công khai thông qua hoạt động xét hỏi và tranh luận, HĐXX xác định một người có tội hay không, hình phạt và biện pháp tư pháp đối với họ, dựa trên những căn cứ, theo những trình tự do pháp luật TTHS quy định. 12 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử cấp thứ nhất do tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.
Theo BLTTHS năm 2015, thủ tục, trình tự tố tong đối với người dưới 18 tội phạm tôI là thủ tục đặc biệt. Với những nội dung trên, “Xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi là việc xét xử vụ án h nh sự theo thủ tục tố tong đặc biệt mà bị cáo trong phiên t a là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi do t a án có thẩm quyền mở ra l n đ u ở cấp thứ nhất để xem xét đánh giá họ có tội hay không có tôI theo cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Khái niệm bị cáo là người dưới 18 tuổi Khái niệm bị cáo Trong lịch sử Việt Nam, việc nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng ra đời, đã chấm dứt tình trạng sinh hoạt trì trệ, nguyên thủy, mở ra một kỷ nguyên mới, để lại dấu ấn rất rõ vào các mặt sinh hoạt của dân tộc Việt Nam.