mở đầu xét hỏi chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng. Sau đó, Tòa án tiến hành xét hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có trách nhiệm bồi thường, 14 người có tài sản, quyền lợi liên quan đến việc phạm pháp, giám định viên, nhân chứng, kết hợp với việc đưa ra xem xét vật chứng và hỏi những người có liên quan về vật chứng đó. Phương pháp xét hỏi là sau khi Hội đồng xử án hỏi xong một việc thì chủ tọa phiên tòa hỏi đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa có hỏi thêm gì hay không. Trình tự xét hỏi là chủ tọa phiên tòa hỏi trước, các Hội thẩm nhân dân hỏi sau.
Tuy nhiên, ngay cả khi Tòa án đang xét hỏi thì đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa có thể yêu cầu Hội đồng xử án cho hỏi những vấn đề cần hỏi ngay. Sau khi Hội đồng xử án, đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa hỏi xong một bị cáo, Chủ tọa phiên tòa cần hỏi những người tham gia tố tụng xem có muốn hỏi thêm bị cáo về vấn đề gì hay không. Sau đó, quay lại hỏi bị cáo xem có muốn hỏi thêm người v a được hỏi vấn đề gì nữa hay không. Khi nhận thấy việc xét hỏi đã đầy đủ, Chủ tọa phiên tòa hỏi đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác xem họ có đề nghị hỏi thêm vấn đề gì hay không.
Nếu không ai yêu cầu hoặc xét thấy việc hỏi thêm về vấn đề có người yêu cầu là không cần thiết, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc xét hỏi. Thứ ba,tranh luận tại phiên tòa: đầu tiên là người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có trách nhiệm bồi thường, người có tài sản, quyền lợi liên quan đến việc phạm pháp trình bày những lý lẽ về vấn đề có liên quan đến quyền lợi của mình; đại diện Viện kiểm sát trình bày kết luận của mình về vụ án; Bị cáo tự bào chữa, nhưng nếu bị cáo có người bào chữa thì ngay khi người này trình bày lời bào chữa, bị cáo có quyền phát biểu bổ sung; những người tham gia tranh luận đáp lại những ý kiến mà mình không đồng ý. Mỗi người chỉ được trả lời ý kiến của bên kia một lần về mỗi vấn đề còn có ý kiến khác nhau, tr trường hợp được chủ tọa phiên tòa cho phép hỏi thêm. Tòa án có thể quyết định quay lại phần xét hỏi nếu khi tranh luận phát hiện ra những vấn đề cần hỏi thêm, xét hỏi xong lại tiếp tục tranh luận.
Sau khi các bên đã phát biểu ý kiến, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận và cho bị cáo nói lời cuối cùng. Thứ tư, nghị án và tuyên án: chỉ Hội đồng xử án mới có quyền nghị án, những người khác không được tham gia. Trình tự nghị án được tiến hành như sau: 15 chủ tọa phiên tòa nêu lên t ng vấn đề để Hội đồng xử án thảo luận và quyết định. Hội thẩm phát biểu ý kiến trước, Thẩm phán phát biểu ý kiến sau.
Hội đồng xử án quyết định theo đa số. Nếu có người đưa ra ý kiến khác ý kiến đa số, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải lập biên bản ghi lại ý kiến đó.Người có ý kiến thiểu số có thể trình bày viết các ý kiến của mình và lưu vào trong hồ sơ vụ án. Kết thúc nghị án, Hội đồng xử án có thể ra bản án hoặc quyết định. Các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm nêu trên phản ánh chế độ tố tụng kiểu xét hỏi áp dụng tại Việt Nam trong thời kỳ này.
Rất nhiều những quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm sau này được chính thức pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật tố tụng do Quốc hội ban hành như Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng năm 2003 và Bộ luật tố tụng năm 2015 hiện hành. Quy định của h u t tố tụng hình sự i t a từ sau h điển ần thứ nhất ch đến nay Kế th a và phát triển pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta t sau Cách mạng tháng 8, trên nền tảng tư tưởng lấy dân làm gốc, với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời (có hiệu lực t ngày 01 -01 -1989) quy định cụ thể trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng… nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, góp phần bảo vệ Chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, nghĩa vụ của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống. Giai đoạn xét xử tại phiên tòa là giai đoạn hết sức quan trọng của toàn bộ trình tự tố tụng hình sự, đây là giai đoạn mà Tòa án thẩm tra lại toàn bộ chứng cứ, lắng nghe tranh luận và cuối cùng quyết định xử lý đối với vụ án. Do đó, việc xét xử phải chính xác và phải có tác dụng giáo dục đối với những người khác.
Chính vì vậy mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã dành tới 5 Chương, 45 Điều luật để quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa. 16 Ngoài những quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa t Điều 160 đến Điều 174 thì trình tự, thủ tục tại phiên tòa được quy định như sau: - Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, mọi người trong phòng xử án đều phải đứng dậy; Sau khi ổn định, chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu thư ký báo cáo danh sách những người được Tòa án triệu tập có mặt hay vắng mặt tại phiên tòa; Hội đồng xét xử hội ý và quyết định hoãn phiên tòa hay tiến hành xét xử. Sau đó, chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước của bị cáo, người được triệu tập đến phiên tòa để xét hỏi và giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa, hỏi bị cáo xem đã nhận được bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hay chưa, giới thiệu thành phần hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án. Hội đồng xét xử sẽ thảo luận và thông qua tại phòng nghị án để giải quyết mọi vấn đề phát sinh tại phiên tòa (Trước đây tại bản hướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 16 – TATC ngày 27/9/1994 của Tòa án nhân dân Tối cao gọi phần này là phần “ Chuẩn bị cho việc xét hỏi”.
- Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa: Sau khi tiến hành xong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần thủ tục chuyển sang phần xét hỏi. Trước khi tiến hành xét hỏi, chủ tọa phiên tòa báo cho các bị cáo đứng dậy và yêu cầu Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng. Sau khi Kiểm sát viên đọc xong cáo trạng thì trình tự xét hỏi sẽ là chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên và cuối cùng là người bào chữa. Những người tham gia phiên tòa có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Phần xét hỏi chỉ có thể kết thúc khi nào Hội đồng xét xử thấy mọi tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ tại phiên tòa và có căn cứ để có thể quyết định xử án thì chủ tọa phiên tòa quay sang hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không? Nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi. Nếu không có người yêu cầu hỏi thêm vấn đề gì nữa thì chủ tọa phiên tòa kết thúc phần xét hỏi và chuyển sang phần tranh luận. 17 - Phần tranh luận: Những người tham gia phiên tòa được phát biểu khi tranh luận theo thứ tự và nội dung như sau: Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; Tiếp theo đến lượt bị cáo trình bày lời tự bào chữa căn cứ vào bản cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên. Nếu bị cáo có người bào chữa thì người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa cho mình; kế tiếp là những người tham gia phiên tòa khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình.
Nếu qua tranh luận, mà xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, sau khi hỏi thêm xong phải tiếp tục bước tranh luận. - Nghị án và tuyên án: Sau khi bị cáo nói lời nói sau cùng, chủ tọa phiên tòa tuyên bố Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mới có quyền vào phòng nghị án. Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, mỗi một vấn đề đều phải được biểu quyết và quyết định theo đa số.
Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào trong hồ sơ vụ án. Khi biểu quyết Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Sau khi nghị án xong, Hội đồng xét xử quay lại phòng xử và tuyên đọc bản án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung qua ba lần (30/6/1990, 22/12/1993 và 09/6/2000).
Đến ngày 26/11/2003 Quốc hội khóa XI đã thông qua, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (có hiệu lực thi hành t ngày 01/7/2004) quy định về trình tự xét xử tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, về cơ bản không khác với những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 mà chỉ mở rộng hơn đối với quyền tranh luận tại phiên tòa của các chủ thể tham gia tố tụng.