Chương 1: Lý luận và quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Chương 2: Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Đà Nẵng. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1.
Khái niệm, đặc điểm cơ bản của ngƣời chƣa thành niên phạm tội 1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội Về mặt lý luận, khái niệm người chưa thành niên phạm tội có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm khác nhau, tuy nhiên theo tác giả cách hiểu có sự thống nhất là: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm [13, tr.9], và đã bị Tòa án xét xử bằng bản án đã có hiệu lực thi hành… [11, tr. Trong phạm vi toàn bộ đề tài này, tác giả nghiên cứu về xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu NCTN phạm tội với địa vị pháp lý là bị cáo là NCTN.
Do đó, tác giả sẽ đi sâu làm rõ khái niệm bị cáo là người chưa thành niên. Trước hết, cần tìm hiểu khái niệm về người chưa thành niên. Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý NCTN, pháp luật quốc tế và pháp luật mỗi quốc gia đã đưa ra giới hạn về độ tuổi làm cơ sở xác định một đối tượng là NCTN. Điều 1 - Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989 quy định: “Trong phạm vi công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.2 - Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh (United Nations Standard Minium Rules for the Administration of Juvenile Justice/Beijing Rules) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985 đưa ra định 6 nghĩa: “Người chưa thành niên là trẻ em hoặc người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật” [5].
Như vậy theo pháp luật quốc tế, “Người chưa thành niên” đồng nhất với “Trẻ em” và được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định khác. Theo quan niệm quốc tế thì dựa vào độ tuổi để xác định trẻ em, người chưa thành niên, thành niên… Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm NCTN được hiểu như sau: Theo từ điển tiếng Việt thì:“Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [35]. Khái niệm này, có thể hiểu là NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện thể lực, trí tuệ, tinh thần có nghĩa là ở lứa tuổi này họ chưa phải là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con. Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên NCTN rất dễ bị kích động, dễ nổi nóng cho nên họ có những phản ứng nóng nảy, vô cớ, những hành vi bất thường [12].
Theo Điều 1 Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, thì: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án. Điều 68 BLHS năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [17]. Chuyển tiếp và kế thừa BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã có một số sửa đổi, bổ sung về quy định thủ tục tố tụng đối với NCTN, thay thế cụm từ người chưa 7 thành niên thành người dưới 18 tuổi, Điều 90 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” [18]. Như vậy, BLHS 2015 cũng không có quy định gì khác hơn so với BLHS năm 1999 về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên.
Điều 18 BLDS năm 2005 quy định: “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [16]. Điều 161 BLLĐ năm 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [19]. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Các quy định trên đều cho thấy sự thống nhất khi quy định về độ tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, khác với quan niệm quốc tế, pháp luật Việt Nam có sự phân định hai khái niệm “Người chưa thành niên” và “Trẻ em”. Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt nam dưới 16 tuổi”. Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [24]. Như vậy, trẻ em là NCTN nhưng NCTN không hẳn là trẻ em vì một bộ phận người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không phải là trẻ em.
Tóm lại, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Điều 12 của BLHS năm 1999 quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Như vậy, chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên mới phải chịu TNHS về hành vi phạm tội, còn NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều 12 của BLHS năm 2015 quy định bổ sung loại tội cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi trở 8 lên, chưa đủ 16 tuổi phải chịu. Vì trong độ tuổi này họ chưa làm chủ được bản thân nên khi thực hiện hành vi phạm tội họ không phải chịu TNHS, không tính lỗi khi thực hiện hành vi. Quy định này là một trong những bổ sung giúp NCTN nhận thức tốt hơn về những điều mà pháp luật ngăn cấm, nâng cao hiệu quả giáo dục phòng ngừa.
*Bị cáo được hiểu như thế nào ? Điều 50 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” [20]. Điều 61 BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm khái niệm bị cáo: “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử…” [21]. Như vậy, kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì tư cách chủ thể thực hiện hành vi phạm tội bị thay đổi, bị can được gọi là bị cáo. Từ đó, có thể hiểu bị cáo là người chưa thành niên, từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Từ những phân tích trên, theo tác giả khái niệm bị cáo là người chưa thành niên được hiểu như sau: “Bị cáo chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gọi là tội phạm, được quy định trong Bộ luật Hình sự và bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Đặc điểm người chưa thành niên phạm tội 1. Về mặt pháp lý Người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi và bổ sung một số các quy định trong chương về NCTN của BLTTHS năm 1999 và đổi tên chương thành thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi.
Đặc điểm cơ bản của NCTN phạm tội mà cụ thể được tác giả đề cập ở đề tài này là bị cáo là NCTN được thể hiện thông qua quy định thủ tục tố tụng hết sức chặt chẽ, mở rộng quy định về quyền của NCTN so với người đã thành niên và họ có ít nghĩa vụ hơn so với người đã thành niên. Về tâm, sinh lý Người chưa thành niên là người đang trong giai đoạn phát triển và định hình nhân cách, lối sống và cách suy nghĩ. Tuổi vị thành niên hàm chứa trong mình rất 9 nhiều yếu tố vừa ghi nhận, vừa loại bỏ, vừa định dạng, vừa biến động trong nhận thức, tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của bản thân rồi trở thành khuôn mẫu nhân cách của họ trong giai đoạn sau này. Đặc trưng cơ bản của NCTN thể hiện thông qua những biến đổi liên tục về mặt thể chất, mặt tâm lý, tình cảm, nhận thức và sau đó là hành vi.
Về mặt thể chất: xét về phương diện y học, NCTN nằm trong độ tuổi có giai đoạn chuyển tiếp từ một đứa trẻ non nớt thành một người lớn khỏe mạnh. Sự tăng trưởng dần của cơ thể và sự biến đổi bên trong của cơ thể có khả năng hoàn thiện các nhiệm vụ của tuổi trưởng thành đó là sự phát triển của thể xác.