Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động đánh giá và xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng dạy học • Hoạt động dạy của người dạy Hoạt động dạy học của GV là một mặt của hoạt động sư phạm (Hoàng Anh & Vũ Kim Thanh, 1966) và là một khâu quan trọng.
Đánh giá chất lượng dạy học không chỉ giúp cho GV biết được những ưu, nhược điểm của bản thân mà còn giúp cho CBQL nhà trường lượng hóa được giá trị lao động của người GV; là cơ sở cho việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn; tạo động lực trong công tác cho họ phấn đấu, cố gắng và phát triển bản thân. Đánh giá chất lượng hoạt động dạy và học (đặc biệt là hoạt động dạy) luôn nhận được sự quan tâm của các lực lượng giáo dục, xã hội và của các tác giả trong và ngoài nước. Từ năm 1980, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về phương pháp đánh giá hiệu quả/ chất lượng hoạt động giảng dạy của GV với 4 phương pháp chính: SV đánh giá; đồng nghiệp đánh giá; chủ nhiệm khoa đánh giá; tự đánh giá của GV. Kết quả phân tích thống kê của các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa các phương pháp trên là đạt mức chấp nhận được (Centra, J.
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá hoạt động giảng dạy của GV (Dee Fink, L, 1999): Tự giám sát và tự đánh giá hoạt động giảng dạy; băng thu âm và thu hình; lấy thông tin từ người học; kết quả học tập của người học. Tuy nhiên, để đánh giá chất lượng giảng dạy thông qua người học được chính xác và tin cậy cần phải xây dựng công cụ sao cho các yếu tố trong tầm kiểm soát của GV tách ra và đan xen vào những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của họ (Wennerstrom, A. 6 Các trường đại học và cao đẳng ở châu Âu và Hoa Kì thường đánh giá hoạt động của GV theo 3 lĩnh vực chính là: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ (Phạm Xuân Thanh, Quality of Postgraduate Training in Vietnam: Definition, Criteria and Mesurement scales, 2000). Khi đánh giá hoạt động giảng dạy họ đã đưa ra 02 tiêu chí và chỉ số như sau: - Giảng dạy: giảng dạy trên lớp, biên soạn bài giảng, biên soạn giáo trình….
- Hướng dẫn SV: tư vấn cho SV về chương trình học, giúp đỡ ngoài giờ lên lớp, hướng dẫn luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ. Theo Braskamp và Ory (2000) khi đánh giá GV cần phải đánh giá trên 04 lĩnh vực là: Giảng dạy; Nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo; Công việc dịch vụ và chuyên môn; Trách nhiệm công dân. Đối với lĩnh vực giảng dạy, hai tác giả này đã đưa ra 4 tiêu chuẩn và 14 tiêu chí đánh giá là: - Truyền đạt kiến thức + Trong các khóa học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo/hội nghị + Tổ chức một khóa học (lưu giữ những thông tin về SV, kinh nghiệm học tập và lập kế hoạch) - Tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên + Giám sát SV trong các phòng thí nghiệm, các buổi học ngoài trời + Tư vấn cho SV (về nghề nghiệp, học thuật, tư vấn riêng) + Giám sát sự hỗ trợ giảng dạy + Giám sát SV trong các trải nghiệm thực hành (ngành y) + Tư vấn giám sát SV trong đề tài nghiên cứu/luận văn/luận án - Tiến hành các hoạt động học tập + Xem xét và thiết kế lại các khóa học + Xét duyệt các chương trình học 7 + Thực hiện theo các tài liệu/sách giáo khoa, phầm mềm vi tính + Hướng dẫn các chương trình học từ xa - Giảng viên cần + Đánh giá giảng dạy của đồng nghiệp + Hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy + Các hoạt động phát triển chuyên môn Đối với tác giả (Trần Thị Tú Anh, 2008) cho rằng chất lượng giảng dạy cao hay thấp của một GV (trong phạm vi hẹp) hay chất lượng đào tạo của một nhà trường (trong phạm vi rộng) phụ thuộc vào một số yếu tố cơ bản: Mục tiêu giảng dạy của môn học hoặc nhà trường; Trình độ ban đầu của SV; Môi trường, điều kiện và phương tiện giảng dạy; Nội dung giảng dạy; Phương pháp giảng dạy; Kiến thức chuyên môn của GV; Qui trình quản lí hoạt động giảng dạy; Lòng yêu nghề (nhiệt huyết nghề nghiệp). Trong phạm vi nghiên cứu của mình tại Học viện Báo chí và tuyên truyền, tác giả đã đề xuất được các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng giảng dạy môn học gồm: Mục tiêu môn học; Phương pháp giảng dạy; Nội dung môn học; Tài liệu học tập; Hoạt động kiểm tra, đánh giá.
Tác giả Sái Công Hồng (2008) đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên trung học sơ sở và áp dụng thí điểm thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Thông qua tự đánh giá của giáo viên, đánh giá của đồng nghiệp và cán bộ quản lý tác giả đã đưa ra những kết luận về chất lượng giảng dạy của giáo viên ở 3 khía cạnh: kiến thức; kỹ năng sư phạm và thái độ giảng dạy. Từ đó, tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên. Tác giả (Lê Đình, 2009) đã cho rằng đánh giá giảng dạy là một công việc khá mới mẻ đối với giáo dục đại học nước ta cả về lí luận lẫn thực tiễn, ngoài ra còn cung cấp một số thông tin về các khái niệm cơ bản của đánh giá giáo dục 8 và một số phương pháp thực hiện cụ thể trong giáo dục đại học.
Tác giả cũng nhấn mạnh về nội dung đánh giá, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản như: Nội dung và phương pháp giảng dạy của GV; Tài liệu phục vụ giảng dạy và thời gian lên lớp của GV; Trách nhiệm và sự nhiệt tình giảng dạy của GV đối với người học; Khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tư duy độc lập của người học trong học tập; Sự công bằng trong kiểm tra, đánh giá của GV; Tư vấn, hướng dẫn hoạt động học tập của người học; Tác phong sư phạm. Khi đi đánh giá sự khác biệt giữa giảng viên và sinh viên trong đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên tại trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc – Quảng Ninh, tác giả (Nguyễn Huy Cường, 2012) thông qua phiếu đánh giá chất lượng với thang đo Lirket 5 mức độ (Rất đồng ý; Đồng ý; Còn phân vân; Không đồng ý; Rất không đồng ý) trên cỡ mẫu là 40 GV và 800 SV, tác giả thấy rằng sinh viên đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên cao hơn so với giảng viên tự đánh giá. Trong nghiên cứu (Nguyễn Việt Hưng, 2014) đã xác định các phương pháp đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên là: học viên; đồng nghiệp; lãnh đạo và từ đó nghiên cứu, phân tích mối tương quan giữa các phương pháp đánh giá đó. Tác giả nghiên cứu tại trường Cao đẳng An ninh nhân dân I với các công cụ đo là: phiếu đánh giá chất lượng giảng dạy bằng ý kiến sinh viên; phiếu đồng nghiệp đánh giá giảng viên; bảng phỏng vấn lãnh đạo bộ môn.
Thông qua mô hình Rasch và phân tích mối tương quan, tác giả đã cho thấy kết quả đánh giá giữa các phương pháp trên vẫn có những chênh lệch nhất định. Theo Khổng Hữu Lực và cộng sự (2019) cho rằng những thành tố cơ bản để đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên bao gồm: điểm thi kết thúc từng mô đun/ môn học; ý kiến phản hồi của người học; việc thực hiện các nội quy, quy định; sĩ số sinh viên tham gia học. Tất cả các yếu tố trên cần phải được lượng hóa thông qua một bộ công cụ để định mức được giá trị và hiệu quả 9 mà giảng viên mang lại. Mặt khác chất lượng giảng dạy của giảng viên theo từng mô đun/ môn học được quy ra thang điểm 100 và là căn cứ để tính mức giờ chuẩn, là cơ sở để tính lương cho giảng viên.
• Hoạt động học của người học Bên cạnh hoạt động dạy của người GV, thì hoạt động học của người học cũng đóng vai trò quan trọng để làm nên chất lượng dạy và học, chất lượng đào tạo. Hoạt động học là một hoạt động nhận thức và tư duy của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và tư duy. Trong hoạt động học thì người học là chủ thể chính. Xu hướng đổi mới giáo dục như hiện nay, người học được xem là trung tâm của hoạt động dạy học và dạy học cũng chú trọng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học đáp ứng các yêu cầu để phát triển.
Chính điều này, đòi hỏi người học phải có phương pháp học tập phù hợp, tính chủ động và tích cực trong các hoạt động học. Bên cạnh đó, GV hay nhà trường cần quan tâm đến đánh giá, kiểm tra hoạt động học tập một cách thường xuyên, hiệu quả. Theo tác giả (Lê Văn Hảo, 2011) đã chỉ ra 9 nguyên tắc đánh giá học tập – đây được xem là kim chỉ nam cho các hoạt động đánh giá người học từ phổ thông đến đại học ở Hoa Kỳ là: - Người học cần bắt đầu với việc thiết lập những giá trị của giáo dục - Đạt hiệu quả cao nếu xem học tập có tính đa chiều, tích hợp và thể hiện kết quả theo thời gian - Được tiến hành thuận lợi khi chương trình đã được xây dựng các mục tiêu rõ ràng và cụ thể - Cần chú trọng đến đầu ra cũng như những gì cần có để đạt được đầu ra. - Đạt hiệu quả cao khi được tổ chức thường xuyên 10 - Góp phần nâng cao chất lượng học tập một khi có sự tham gia của nhiều bên liên quan - Tạo ra sự khác biệt một khi được thực hiện đúng và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của các bên liên quan - Chỉ có thể tạo ra sự chuyển biến khi nó được tiến hành cùng với các yếu tố giúp tạo ra sự thay đổi - Nhà giáo thực hiện trách nhiệm của mình đối với người học và xã hội.
Nghiên cứu với cỡ mẫu là 360 SV và bảng hỏi nhận định của SV với 5 mức độ: Mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động học tập; kỹ năng sử dụng máy tính; điều kiện tiếp cận CNTT; sự hỗ trợ từ bạn bè, giảng viên, nhà trường.