phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dựng thƣơng hiệu Chƣơng 2: Thực trạng thƣơng hiệu tại công ty TNHH tiêu dùng quốc tế Hải Phong Chƣơng 3: Xây dựng và phát triển thƣơng hiệu Khăn ƣớt NEW BORN và giải pháp triển khai thực hiện HDKH: PGS.TS Trương Đoàn Thể ~4~ HV: Vũ Hoài Giang Lớp: CHQTKD K3-1 Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG THƢƠNG HIỆU 1. Thƣơng hiệu và vai trò của thƣơng hiệu 1. Các khái niệm và bản chất về thƣơng hiệu Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ đã định nghĩa: “Nhãn hiệu/thƣơng hiệu (Brand) là tên gọi, biểu tƣợng, dấu hiệu, kiểu dáng hoặc sự phối hợp tất cả các yếu tố này để có thể nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một ngƣời bán cũng nhƣ phân biệt nó với hàng hóa hay dịch vụ của những ngƣời bán khác”.Aaker đã viết trong “ Managing Brand Equity” nhƣ sau: “Một thƣơng hiệu là một tên đƣợc phân biệt và biểu tƣợng nhƣ logo, nhãn hiệu cầu chứng (trade mark) hay kiểu dáng bao bì có dụng ý xác định hàng hóa hay dịch vụ, hoặc của một ngƣời bán hay của một nhóm ngƣời bán và để phân biệt các sản phẩm hay dịch vụ này với các sản phẩm hay dịch vụ của Công ty đối thủ”. [web: 6] Tên hiệu thì không có sự liên tƣởng nào, nó chỉ đơn thuần là một cái tên.
Tên trở thành thƣơng hiệu khi cái tên đó đƣợc tồn tại và có uy tín, ngƣời ta liên tƣởng nó tới những thứ khác. Thƣơng hiệu cũng rất giống nhƣ danh tiếng. Ví dụ, thƣơng hiệu Coca-Cola có những sự liên tƣởng nhƣ cola, nƣớc giải khát, màu đỏ khẩu hiệu Real thing. [web: 2] Một thƣơng hiệu thƣờng cấu tạo bởi hai phần chính: Phần phát âm đƣợc: là các yếu tố có thể đọc đƣợc, tác động vào thính giác của ngƣời nghe nhƣ: tên Công ty, tên sản phẩm, câu Slogan, đoạn nhạc hát đặc trƣng và các yếu tố phát âm đƣợc.
Phần không phát âm đƣợc: là các yếu tố không đọc lên đƣợc mà chỉ cảm nhận bằng thị giác nhƣ: hình vẽ, logo, kiểu dáng, nét chữ, màu sắc, thiết kế của bao bì và các yếu tố nhận biết khác.TS Trương Đoàn Thể ~5~ HV: Vũ Hoài Giang Lớp: CHQTKD K3-1 Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Trong các tài liệu Marketing đều coi thƣơng hiệu là một bộ phận của sản phẩm và các quyết định về thƣơng hiệu nhƣ một bộ phận trong các quyết định về sản phẩm trong hỗn hợp Marketing của doanh nghiệp. [23] Ngƣời tiêu dùng cảm nhận thƣơng hiệu hàng hóa nhƣ một bộ phận cơ bản của sản phẩm và đặt tên thƣơng hiệu có thể làm tăng giá trị cho sản phẩm. [11] Theo Philip Kotler đã xác định rõ các khái niệm sau: Thƣơng hiệu (Brand): là một tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, mẫu vẽ hay tổng hợp các thứ đó nhằm nhận diện các hàng hóa hay dịch vụ của một người hay một nhóm người bán và cũng để phân biệt với các hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. [24] Dấu hiệu (Brand Mark): là một phần của thương hiệu nhưng không đọc được, chẳng hạn như một biểu tượng, mẫu vẽ, hoặc một kiểu chữ và màu sắc riêng biệt như hình ngôi sao của xe hơi Mercedes, hình con sư tử của xe hơi Peugeot Pháp.[24] Nhãn hiệu cầu chứng tại tòa (Trade Mark): là hiệu hay một phần của hiệu được luật pháp bảo vệ vì nó có thể loại bỏ việc làm giả.
Nhãn hiệu bảo vệ quyền riêng của người bán trong việc sử dụng tên hiệu hay dấu hiệu đó.[24] Để duy trì lợi thế cạnh tranh có đƣợc từ những thƣơng hiệu nổi tiếng, doanh nghiệp phải đăng ký bản quyền, khi đó doanh nghiệp đƣợc cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ cấp độc quyền sử dụng thƣơng hiệu (tiếng Anh gọi là Trade Mark) khi đó trên thƣơng hiệu hàng hóa có chữ ™ nghĩa là lúc này thƣơng hiệu mới đƣợc đăng ký, đƣợc Cục sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn. Từ lúc chấp nhận đơn đến lúc cấp bản quyền từ 12 đến 16 tháng với điều kiện trong thời gian này không ai kiện cáo, tranh cấp thì Cục sở hữu trí tuệ mới chính thức cấp bản quyền cho thƣơng hiệu đó và thƣơng hiệu đó đƣợc phép để chữ ® ngay cạnh thƣơng hiệu mình. Nhƣ vậy chúng ta hiểu rằng thƣơng hiệu này lúc này mới chính thức là của doanh nghiệp mình. Khi một thƣơng hiệu đƣợc cấp bản quyền sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh đƣợc các giả mạo của đối thủ cạnh tranh, sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp độc quyền sở hữu thƣơng hiệu đó trong quá trình kinh doanh và có thể nói thƣơng hiệu là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp.
Với quan niệm truyền thống về thƣơng hiệu thì đầu tiên nhãn hiệu là một phần của sản phẩm và chức năng của nó (ở giai đoạn đầu tiên) là dùng để phân biệt sản HDKH: PGS.TS Trương Đoàn Thể ~6~ HV: Vũ Hoài Giang Lớp: CHQTKD K3-1 Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tốt nghiệp phẩm này với sản phẩm khác trong chính doanh nghiệp đó hay với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại nhƣng càng về sau trong quá trình kinh doanh uy tín hiệu quả, có đƣợc nhiều lòng trung thành của khách hàng thì nhãn hiệu đó dần trở thành thƣơng hiệu. Giá trị thƣơng hiệu càng lớn khi nó có nhiều uy tín, nhiều lòng trung thành của khách hàng. Trong quà trình phát triển của khoa học Marketing, khi tƣ duy Marketing trở nên hoàn thiện thì quan điểm về thƣơng hiệu đã có sự thay đổi. Thƣơng hiệu bây giờ không chỉ đơn thuần là một cái tên hay biểu tƣợng thuần túy mà đằng sau nó là: Chất lƣợng sản phẩm, uy tín doanh nghiệp ….
Là tất cả những thứ mà doanh nghiệp đảm bảo cung cấp cho khách hàng. Vậy thương hiệu hàng hóa của mỗi doanh nghiệp là biểu hiện trên thị trường của tất cả những thứ mà doanh nghiệp đó có và đảm bảo cung cấp cho khách hàng từ con người, tổ chức đến hàng hóa, dịch vụ… [23] Theo Ambler & Styles đã định nghĩa: “Thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu và các giá trị lợi ích mà họ tìm kiếm” [6]. Khi đó sản phẩm đƣợc coi là một phần của thƣơng hiệu có chức năng chủ yếu là cung cấp “giá trị lợi ích tiêu dùng” cho khách hàng và các thành phần khác của Marketing – Mix nhƣ giá cả, phân phối hay truyền thông marketing là những yếu tố hay công cụ tạo nên một thƣơng hiệu nổi tiếng trên thị trƣờng mà thôi. Thƣơng hiệu là một phần của sản b.
Sản phẩm là một phần của thƣơng phẩm hiệu THƢƠNG HIỆU SẢN PHẨM Thƣơng hiệu Sản phẩm Hình 1.1: Mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thƣơng hiệu [25] HDKH: PGS.TS Trương Đoàn Thể ~7~ HV: Vũ Hoài Giang Lớp: CHQTKD K3-1 Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Tóm lại, thƣơng hiệu là đại diện của một tập hợp các thuộc tính hữu hình và các thuộc tính vô hình của sản phẩm và doanh nghiệp trên thị trƣờng. Các thuộc tính hữu hình thuộc về vật chất của sản phẩm và là những gì mà khách hàng cảm nhận đƣợc bằng thị giác đáp ứng cho khách hàng về loại nhu cầu: Nhu cầu về chức năng: cung cấp lợi ích cơ bản của sản phẩm. Các thuộc tính vô hình của thƣơng hiệu còn đáp ứng thêm loại nhu cầu thứ hai: Nhu cầu tâm lý: cảm giác an toàn, thích thú và tự hào về quyền sở hữu, sử dụng. Lối sống Khách hàng Thƣơng hiệu Nhu cầu chức năng Thuộc tính hữu hình Nhu cầu tâm lý Thuộc tính vô hình Ngân sách Sơ đồ 1.1: Thƣơng hiệu và khách hàng [23] 1.
Các thành tố của thƣơng hiệu Khi xây dựng thƣơng hiệu cần phải chú ý các vấn đề sau:[8] Thƣơng hiệu phải dễ nhớ: Đây là điều kiện hết sức cần thiết để tạo nhận thức của thƣơng hiệu đối với ngƣời tiêu dùng. Thƣơng hiệu phải có ý nghĩa: Để có thể gây ấn tƣợng và tác động vào tâm trí của khách hàng, thƣơng hiệu cũng phải chuyển tải một ý nghĩa xác định. Muốn vậy thành phần của thƣơng hiệu phải có tính mô tả (thí dụ gợi cho ngƣời đọc nghĩ tới một đặc điểm nổi bậc nào đó của sản phẩm), có tính thuyết phục (nhấn mạnh lợi ích sản phẩm mang lại), vừa có tính hài hƣớc hấp dẫn (nhƣ ý nghĩa câu chữ), đồng thời có tính hình tƣợng cao, gây cảm xúc thẩm mỹ.TS Trương Đoàn Thể ~8~ HV: Vũ Hoài Giang Lớp: CHQTKD K3-1 Viện Đại học Mở Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thƣơng hiệu phải dễ thích nghi và có khả năng chuyển đổi, phát triển: Khả năng thay đổi thị hiếu của khách hàng hoặc sự chuyển hƣớng của thị trƣờng mục tiêu, doanh nghiệp phải sẵn sàng cho những sự điều chỉnh cần thiết, vì vậy tính linh hoạt và dễ cải tiến, dễ cập nhật của thƣơng hiệu là một yếu tố không thể bỏ qua. Việc mở rộng ra những phân khúc thị trƣờng mới hoặc những khu vực văn hóa, địa lý khác nhau kể cả thị trƣờng quốc tế là xu hƣớng của hầu hết các doanh nghiệp trong tƣơng lai.
Thƣơng hiệu phải có tính dễ bảo hộ: Nguyên tắc này thể hiện trên hai khía cạnh: pháp luật và cạnh tranh, bởi vậy cần phải chọn các yếu tố thƣơng hiệu dễ bảo hộ về mặt pháp luật trên cơ sở quốc tế. Đăng ký chính thức các yếu tố thƣơng hiệu với cơ quan pháp luật có thẩm quyền chức năng.1 Tên thƣơng hiệu Khái niệm về tên thương hiệu: Theo Richard Moore, một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông cho rằng: “Tên thương hiệu là tên mà doanh nghiệp sử dụng để giới thiệu sản phẩm và phản ánh tính cách thương hiệu của mình” [26]. Đối với Philip Kotler: “Tên thương hiệu (brand name) là một bộ phận của thương hiệu mà có thể đọc được bao gồm chữ cái, từ và con số” nhƣ Nike, Lavie hay 7up.[18] Vai trò về tên thương hiệu: Tên thƣơng hiệu là một trong những quyết định không thể thiếu trong quá trình tạo lập và xây dựng thƣơng hiệu. Một cái tên hiệu quả sẽ không chỉ giúp cho doanh nghiệp khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trƣờng, giúp khách hàng dễ gọi tên và mua sản phẩm mà nó còn có thể là công cụ để doanh nghiệp truyền thông dễ dàng và mang nhiều lợi nhuận trong tƣơng lai.