Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về Quan hệ lao động trong doanh nghiệp 1. Quan hệ lao động Về quan hệ lao động hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau, ILO đã đưa ra cách tiếp cận mới về QHLĐ: QHLĐ hay quan hệ công nghiệp (Labour relations, industrial relations) là những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những nguời lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội, tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật.
Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên quan – David Macdonal và Carola Vandenableele. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: QHLĐ (hay quan hệ công nghiệp) Là quan hệ xã hội hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là người có sức lao động (người lao động) và một bên (cá nhân hoặc pháp nhân) là người sử dụng sức lao động. Trong QHLĐ, người lao động phải thực hiện một nội dung hoạt động nào đó, còn bên sử dụng lao động phải trả công, hoặc trả lương và đảm bảo những điều kiện lao động cần thiết khác cho NLĐ. Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu và phổ biến nhất của các QHLĐ.
Còn theo điều 3, mục 6 Bộ luật Lao động năm 2019: Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương 11 giữa người lao động và người sử dụng lao động và Điều 7, khoản 5 quy định: Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận, theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. [25] Tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn thì đưa ra khái niệm về QHLĐ như sau: Quan hệ lao động là hệ thống tương tác giữa các chủ thể (người lao động hoặc tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và Nhà nước) nảy sinh từ quá trình thuê mướn lao động để đạt được lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội dựa trên cơ sở pháp luật. [21] Như vậy QHLĐ là một vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đã nêu lên rất nhiều khái niệm khác nhau về QHLĐ.
Trên cơ sở tiếp thu các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về QHLĐ như sau: QHLĐ là quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ hình thành trong quá trình thuê mướn nhân công, được tiến hành thông qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận giữa các bên theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động do Nhà nước ban hành. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp Có nhiều quan niệm khác nhau về quan hệ lao động trong doanh nghiệp, tuy nhiên theo tác giả khái niệm sau phản ánh đúng đắn, đầy đủ về quan hệ lao động trong doanh nghiệp đó là QHLĐ tại đơn vị, doanh nghiệp là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ. QHLĐ doanh nghiệp là quan hệ trực tiếp giữa NLĐ với NSDLĐ (hay giữa các tổ chức đại diện của họ với nhau) trong một doanh nghiệp. Mối quan hệ này hình thành trên cơ sở các chủ thể tương tác với nhau về các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích NLĐ như tiền công, phụ cấp lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, việc làm và đảm bảo 12 việc làm, an toàn vệ sinh lao động, phúc lợi xã hội, khen thưởng, kỷ luật, sa thải, chính sách đào tạo bồi dưỡng NLĐ của công ty.
Đặc trưng của Quan hệ lao động trong doanh nghiệp Thứ nhất, quan hệ lao động trong doanh nghiệp là mối quan hệ đặc biệt mang cả tính kinh tế và tính xã hội QHLĐ mang tính kinh tế vì nó được xác lập trong quá trình mua - bán sức lao động. Nhưng mặt khác QHLĐ cũng mang tính xã hội vì cả hai chủ thể này đều là những thành viên của xã hội. QHLĐ là quan hệ giữa người với người được hình thành trong hoạt động lao động. Các bên đối tác không chỉ liên quan đến nhau về lợi ích kinh tế mà còn cần được thỏa mãn các giá trị tinh thần.
NLĐ luôn mong muốn được đối xử công bằng, tôn trọng, quan tâm, tạo điều kiện làm việc tốt nhất. NSDLĐ thì mong muốn NLĐ chia sẻ với những khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải, có tinh thần gắn bó và cống hiến vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đặc trưng thứ hai, quan hệ lao động trong doanh nghiệp vừa mang tính mâu thuẫn vừa mang tính thống nhất Lợi ích kinh tế của NSDLĐ và NLĐ luôn mâu thuẫn, khác chiều nhau. Trong quá trình sản xuất với tư cách là nhà đầu tư, NSDLĐ luôn tìm mọi cách để tăng lợi nhuận như yêu cầu NLĐ phải làm thêm giờ, tăng ca để tăng năng suất lao động.
Nhưng mặt khác lại tìm cách giảm tiền lương và các phúc lợi khác của NLĐ để giảm chi phí sản xuất. Ngược lại, NLĐ luôn mong muốn nhận được mức tiền lương, thu nhập cao, có thời gian làm việc nghỉ ngơi hợp lý, được làm việc trong điều kiện an toàn. Tuy nhiên QHLĐ có tính thống nhất bởi ở khía cạnh khác thì lợi ích của NLĐ với lợi ích của doanh nghiệp lại cùng chiều với nhau. Chỉ khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt, NSDLĐ đạt được lợi nhuận cao thì mới có điều kiện và tiềm lực tài chính vững mạnh để tăng lương thưởng và các phúc lợi cho NLĐ, đầu tư công nghệ máy móc, giảm giờ làm cho công nhân.
13 Đặc trưng thứ ba là quan hệ lao động trong doanh nghiệp vừa mang tính cá nhân vừa mang tính tập thể Tính cá nhân vì QHLĐ tại doanh nghiệp được thiết lập trên cơ sở ký kết hợp đồng lao động giữa cá nhân NLĐ và NSDLĐ hoàn toàn tự nguyện sau khi hai bên gặp gỡ và thỏa thuận, thống nhất với nhau. Do yêu cầu chuyên môn hóa, phân công lao động nên doanh nghiệp phải tuyển lao động với các trình độ khác nhau, thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Các nhóm lao động này sẽ phải phối hợp và hỗ trợ nhau trong quá trình làm việc vì họ có chung những lợi ích kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân có thể quy định mỗi nội dung dưới đây thành một Điều khoản trong Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc của doanh nghiệp tư nhân Nguyên tắc đối thoại tại nơi làm việc - Thiện chí, hợp tác, trung thực, bình đẳng, công khai và minh bạch.
- Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động,doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. - Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. - Doanh nghiệp tư nhân có thể bổ sung các nguyên tắc khác phù hợp với thực tế hoạt động, văn hóa doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân. Tổ chức đối thoại định kỳ hằng năm Người lao động được tham gia ý kiến - Đối với trường hợp người lao động được tham gia ý kiến và pháp luật quy định cụ thể hình thức người lao động tham gia ý kiến thì thực hiện theo quy định đó.
Hội nghị người lao động - Hội nghị người lao động do doanh nghiệp tư nhân phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có) và nhóm đại diện đối thoại 14 của người lao động (nếu có) tổ chức hằng năm theo hình thức hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu. - Quy chế dân chủ cần quy định rõ hình thức tổ chức hội nghị, nội dung, thành phần tham gia, thời gian, địa điểm, quy trình, trách nhiệm tổ chức thực hiện và hình thức phổ biến kết quả hội nghị người lao động. Các chủ thể, vai trò của các chủ thể tham gia Quan hệ lao động và cơ chế tương tác trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp 1. Các chủ thể và vai trò của các chủ thể tham gia quan hệ lao động tại doanh nghiệp Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn: Chủ thể quan hệ lao động được hiểu là cá nhân, tổ chức có tính đại diện tham gia vào quá trình tương tác của quan hệ lao động.
[21] Còn theo tác giả Nguyễn Duy Phúc: Các chủ thể của quan hệ lao động được hiểu là các nhóm lợi ích chính trong quan hệ lao động. Ở cấp doanh nghiệp có hai nhóm chủ thể chính là NLĐ (hoặc tổ chức đại diện của họ) và NSDLĐ. [24] Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Khi tham gia QHLĐ thông qua việc ký hợp đồng lao động với NSDLĐ, NLĐ phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng.
Ngoài ra NLĐ cũng tuân thủ pháp luật lao động của Nhà nước, nội quy quy chế của Công ty. NLĐ là thành phần không thể thiếu để doanh nghiệp tồn tại. Do đó trạng thái QHLĐ trong doanh nghiệp như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của NLĐ về QHLĐ, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Nhận thức ấy được thể hiện ở: nhận thức về lợi ích thực sự của NLĐ, kiến thức pháp luật lao động và trình độ nhận thức của NLĐ về QHLĐ.
Tổ chức đại diện NLĐ: 15 Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động.