phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết: Chƣơng 1: Quan niệm chung về gia đình, mối quan hệ giữa yếu tố truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô Hà Nội hiện nay. Chƣơng 3: Một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại trong xây dựng gia đình văn hóa vùng ven đô Hà Nội hiện nay. 11 z Chƣơng 1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.
Quan niệm chung về gia đình 1. Khái niệm gia đình Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người được sinh ra, được bắt đầu một cuộc đời, được bắt đầu sự nhận biết. Trong suốt cuộc đời cho đến khi kết thúc, gia đình luôn luôn là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm, là cái nôi của sự yên tĩnh trong yên bình, trong ấm êm của mỗi cá nhân. Sự bình yên là yếu tố vô cùng cần thiết cho cuộc sống của con người và cho xã hội.
Gia đình là nơi đảm bảo những điều kiện an toàn cho trẻ thơ phát triển, người già có nơi nương tựa, không bị hiu quạnh cô đơn, người lao động được phục hồi sức khỏe, lấy lại sự cân bằng tâm lý sau giờ lao động mệt mỏi. Chính ở gia đình, con người đã được biết đến một điều vô cùng thiêng liêng trong mối quan hệ giữa người với người, đó là sự quên mình vì người khác. Khi đề cập tới phạm trù gia đình, có rất nhiều cá nhân và nhiều ngành khoa học đã nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Trong đó có một số định nghĩa đáng chú ý: Các Mác cho rằng: ".
Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình. Như vậy, bàn về gia đình, Các Mác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của nó trong duy trì nòi giống và nhấn mạnh mối quan hệ tình cảm ruột thịt trong gia đình, mối quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Dưới góc độ ngôn ngữ, khi bàn về vấn đề gia đình theo phương pháp chiết tự từ, nhà khoa học Hoàng Tiến đã chỉ ra: Chiết tự chữ "Gia" theo nghĩa Hán gồm bộ Miên, mang ý nghĩa mái lợp trùm nhà ngoài nối nhà trong, dưới có chữ "Thể", nghĩa là con lợn; chữ "Gia" 12 z mang ngữ nghĩa nhà ở, chắc chắn phải xuất hiện từ thời loài người đã biết chăn nuôi.
Chiết tự chữ "Đinh" bao gồm bộ "Nghiễm", tức mái nhà (đọc là yêm), dưới là "Đình" với ý nghĩa chỗ phát chinh lệnh cho cả nước (theo như triều đình) [38, tr. Như vậy, nghĩa xa xưa của gia đình hẳn là một đơn vị kinh tế nhỏ, chung sống dưới một mái nhà trong cộng đồng xã hội. Định nghĩa này đã khái quát được một số đặc trưng của gia đình (chung sống cùng mái nhà, là đơn vị kinh tế), nhưng chưa khái quát được cơ sở hình thành gia đình cùng một số chức năng quan trọng khác của gia đình. Theo từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên đã định nghĩa: “Gia đình là một đơn vị xã hội, thành lập trên cơ sở dòng máu, bắt nguồn từ thời đại thị tộc mẫu hệ, trong thời đại phong kiến thường có cha mẹ, con cháu, có khi chắt nữa, trong thời đại TBCN thường chỉ có vợ chồng và con cái” [45, tr.
Định nghĩa này khái quát được một số nét bản chất của gia đình về cơ sở hình thành, duy trì, biến đổi của gia đình trong lịch sử và khẳng định gia đình là đơn vị xã hội nhưng chưa nêu ra được vai trò của gia đình với xã hội qua các chức năng của nó. Có thể nói, dưới góc độ ngôn ngữ, định nghĩa gia đình chưa thật đầy đủ, cần phải có định nghĩa mới về gia đình nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi. Dưới góc độ xã hội học, George Murdock định nghĩa gia đình là "một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự cộng tác và tái sản xuất về kinh tế, bao gồm những người trưởng thành của cả hai giới, trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tính dục được xã hội công nhận, và một hoặc nhiều đứa trẻ, là con đẻ hay con nuôi, của những người trưởng thành có quan hệ như vợ chồng với nhau" [17, tr. Định nghĩa của Murdock làm nảy ra một số vấn đề.
Trước hết, Murdock đã bỏ qua mặt quyền lực. Trong thực tế, các gia đình là các nhóm nhỏ mà các thành viên của chúng có sự khác biệt quan trọng về quy mô, sức khỏe và các tiềm năng (kinh tế và các thứ khác). Chính sự không cân bằng này đã tạo ra chế 13 z độ gia trưởng - sự kiểm soát gia đình bởi một người đàn ông thống trị (điển hình là người cha) - một sự thật mang tính lịch sử của đời sống gia đình trong phần lớn các xã hội đã được biết đến. Nhìn từ góc độ tâm lý học, Bacbara Schoen Johnson - chuyên gia tư vấn tâm lý, Lippincott (Hoa Kỳ) - 1997, cho rằng: Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội gồm hai hoặc nhiều cá nhân cùng hướng tới chia sẻ chung những niềm tin và những giá trị.
Yếu tố làm cầu nối của một gia đình là sự thỏa hiệp. Những thành viên trong gia đình có thể quan hệ với nhau bằng kết hôn, bằng huyết thống, nhận làm con nuôi, sự đồng thuận hoặc nhu cầu thiết yếu về kinh tế [22, tr. Theo bà, gia đình lý tưởng tương tác theo các cách cho phép đạt tới những mục tiêu chung, như duy trì sự sinh hoạt gia đình, xã hội hóa, duy trì tình bè bạn, nuôi nấng con cái và chăm nom những thành viên khi ốm đau, hoạn nạn. Gia đình cố gắng đáp ứng những nhu cầu cho các thành viên của mình, như các nhu cầu sinh lý, nhu cầu được an toàn, nhu cầu yêu thương, nhu cầu tự trọng và nhu cầu thể hiện mọi tiềm năng bản thân.
Cũng dưới góc độ tâm lý học, tác giả Ngô Công Hoán cho rằng: "Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định" [58, tr. Định nghĩa trên chỉ ra gia đình là cộng đồng xã hội đặc biệt gắn bó giữa các cá nhân bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, cộng đồng tương hỗ về đạo đức và vật chất. Tuy nhiên trong định nghĩa này, chúng ta thấy vai trò và quan hệ tác động của gia đình - xã hội chưa được khái quát. Từ góc độ triết học, Giáo sư Lê Thi quan niệm: Khái niệm gia đình được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại).
Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên gia đình gắn bó nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ hàng có những điều ràng buộc có tính pháp 14 z lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước ta). Đồng thời, gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên [41, tr. Có thể nói đây là một định nghĩa khá hoàn chỉnh, đã phản ánh được những thuộc tính vốn có của gia đình.
Bởi quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ hình thành giữa chủ thể với đối tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi, được họ hàng ủng hộ và được pháp luật bảo vệ. Hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm quốc tế về gia đình và khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của xã hội. Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại, cần được gìn giữ và phát huy. Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về gia đình “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung.
Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt, được pháp luật thừa nhận” [3, tr. Qua một số quan niệm về gia đình của các tác giả có thể thấy rằng gia đình được nhận diện trên một số khía cạnh sau đây: Một là, gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên cơ sở của quan hệ hôn nhân. Quan hệ hôn nhân là sự liên kết các cá nhân (nam - nữ) theo quy định của pháp luật hay nhà thờ, nhằm để cùng sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân được biểu hiện là một loại quan hệ xã hội gắn liền với thân nhân đó là quan hệ vợ chồng kết hợp với nhau để sinh sản và cùng nuôi dạy con cái.
Mỗi hình thái kinh tế xã hội có các kiểu hôn nhân đặc trưng và trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị dùng luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình. Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, là sự tiếp tục và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân, nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên quan hệ tình yêu và hôn nhân chính đáng, hợp pháp. 15 z Ba là, quan hệ nuôi dưỡng là loại quan hệ hình thành giữa chủ thể và đối tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau vì trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được họ hàng ủng hộ và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.