Chương 1: Cơ sở lý luận về KT-ĐG kết quả học tập. Chương 2; Xây dựng bộ công cụ KT-ĐG kết quả học tập môn Vật lý lớp 12 THPT- Học kỳ 1 (chương trình cải cách). Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục “Toàn luận văn có 40 bảng, # hình, sử dụng 56 tài liệu tham khảo.
Phẫn phụ lục có 89 trang. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP. 1,1, ĐẠI CƯƠNG VỀ KIỂM TRA-DANH GIA KET QUA HOC TẬP 1. Các khái niệm cơ bản về KT-ĐG kết quả học tập Theo J.De Ketele, “DG c6 nghia 1a xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó *[2].
Hoặc một cách định nghĩa khác: “DG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán vẻ kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã để ra, nhằm để xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điêu chỉnh. nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc [10]. KT được xem như phương tiện nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc ĐG. KT là một hoạt động quan trọng, cụ thể mang tính chất công cụ của ĐG.
Theo các nhà nghiên cứu ĐG giáo dục, mối quan hệ giữa kết quả học tập và chất lượng nói chung của việc dạy và học thường không được xem xét đúng mức, cho dù người ta vẫn nhận thức được là các yêu cầu dành cho việc ĐG kết quả học tập và sự rõ rằng của các chuẩn mực ĐG thường ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hiệu quả của việc học tập. Nếu việc thiết kế. ác ĐG kết quả học tập được tiến hành cẩn thận, khoa học ĐG sẽ góp phẩn trực tiếp vào cách học sinh tiếp cận việc học của mình và do đó gián tiếp tác động rất mạnh vào chất lượng học tập của họ [11]. tơđỗ mô tả một số quy trình và nhận thức trái ngược nhau giữa GV và HS trong qué trinh day hoc [11] Đối với GV, ĐG thường được cho là bước xem xét cuối cùng trong quá trình hoạch định chương trình học.
Điểu đó không có nghĩa là GV xem nhẹ hay nghĩ không đúng về ĐG, mà là vì bước ĐG thường được nghĩ đến chỉ khi các quyết định khác về chương trình học đã được đưa ra. Mối quan tâm đầu tiên của các GV trong quá trình thiết kế và hoạch định các hoạt động dạy học là phải dạy cái gì và dạy như thế nào? Ngược lại, HS lại thường tập trung chú ý trước hết vào việc các em sẽ được yêu cầu làm gì và các em sẽ được ĐG như thế nào? Robert Glaser đã giới thiệu mô hình đạy học, trong đó KT-ĐG là một thành tố cơ bản trong quá trình dạy học: Hình 1.2: Sơ đổ mô tả quá trình dạy học có sự phản hồi Hộp D ( KT-ĐG kết quả) bao gồm việc kiểm tra, quan sát. nhằm so sánh năng lực học tập của HS với mục tiêu đạy học ở hộp A xem nó đang ở mức độ nào. Trong dạy học, rất cẩn những thông tin ngược, nhờ vào việc tổ chức KT-ĐG mà thấy trò điều chỉnh quá trình dạy học sao cho có kết quả tốt hơn [38].
Nếu xem quá trình dạy học là một chủ trình kín thì khâu KT là khâu khép kín chu trình ấy, nó giúp cho GV biết được trình độ của HS mình để có sự điểu chỉnh cẩn thiết trong việc dạy. Hơn thế nữa, HS có thể tự đánh giá thông qua kết quả kiểm trả để điều chỉnh việc học của các em. Vì vậy, có thể nói KT-ĐG kết quả học tập của HS là một bộ phận hợp thành rất quan trọng và tất yếu của toàn bộ quá trình dạy học.Đó là khâu cuối cùng, đồng thời khởi đầu cho một chư trình kín tiếp theo với một chất lượng cao hơn [36], [38].Mục đích, ý nghĩa của việc KT-ĐG kết quả học tập 1. Mục đích của việc KT-ĐG I3I.
|43| KT-ĐG kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng, không thể tách rời trong hoạt động đạy học ở nhà trường, Một đánh giá tốt luôn đưa đến kết quả là cũng cố việc học tập tốt. Đây là một công việc thường xuyên của GV Vật lý cũng như GV tất các môn khác. ĐG liên quan đến con người,nên đây là công việc khó khăn và phức tạp mà cho đến nay vẫn còn phải tiếp tục nghiên cứu, cải tiến để có thể tiến hành một cách chính xác và khách quan. Mục đích của việc này là: + Để GV nắm được tình hình học tập của HS: Các em có học bài cũ ở nhà không và ở mức độ nào? Có nhớ bài, có hiểu bài hay không và ở mức độ nào? Có vận dụng được bài hay không và ở mức độ nào? Trên cơ sở đó người GV có những biện pháp thích ứng cho từng trường hợp.
Khi đã chẩn đoán được những khó khăn hoặc những tư duy đặc biệt của HS, GV sẽ có cơ sở phân loại để hướng dẫn chính xác, phù hợp với năng lực của từng em. hư vậy, KT-ĐG giúp cho việc nâng cao sự tiến bộ của mỗi cá nhân HS. + Giúp GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu cửa mình: Trên kết quả thu nhận được từ bài KT, GV nhận sẽ có điểu kiệ được những thông tỉn ngược phản ánh trình độ nhận thức của HS. Qua đó, GV chẩn đoán những chỗ có vấn để trong phương pháp dạy học, tự đánh giá và điểu chỉnh hoạt động dạy học của mình.
Trên cơ sở „ người GV không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình vẻ trình độ chuyên môn, vẻ phương pháp giảng dạy. + Để HS có cơ hội thực hiện và tự điều chỉnh các hoạt động học tập của mình: V chuẩn bị cho một bai KT I quan đến nhiều hoạt động học tập như: tớm tắt, lập dần ý. học công thức. Khi thực hiện bài KT, HS phải tiến hành các hoạt động liên quan đến giải quyết vấn để, tư duy linh hoạt, diễn dịch, tính toán.
Nhờ KT-ĐG, HS nhận biết được những vấn đẻ mà họ đã hiểu sai, sửa đổi những phương pháp học tập chưa đúng( sự tự điểu chỉnh) và rèn luyện, củng cố những phương pháp học tập đứng. Air vậy, KT-ĐG có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phái triển không ngừng. + Để công khai hoá kết quả học tập của mỗi HS: KT-ĐG nhằm tạo nguồn thông tin để thông báo về tình hình học tập thực tế của mỗi HS cho bản thần các em, cho phụ huynh học sinh, cho các cơ quan chức năng có liên quan. + Để cải tiến quá trình dạy học: Thông qua KT-ĐG, người ta có thể làm sáng tở mức đạt được và chưa đạt được về các mục tiều dạy học: tình trạng kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh đối chiếu với yêu cầu của chương trình.
Mặt khác, các nhà nghiên cứu có thể xác định tính hiệu quả của các phương pháp, tài liệu và nội dung của việc dạy học. Như vậy, KT-ĐG cung cấp những tư liệu hữu ích cho các để án nghiên cứu khoa học, làm cơ sở xây dựng đội ngũ GV, thiết kế chương trình học ngày càng tốt hơn và phương pháp day học ngày càng hiệu quả hơn.Ý nghĩa cud vite KT-DG + Đối với HS: \2), (35). [43], [44] - Nhờ KT-DG, HS có cơ hội được tiến hành các hoạt động: ghỉ nhớ, tái hiện, tóm tất, khái quát hóa, hệ thống hóa, luyện tập vận dụng kiến thức và năng lực giải quyết vấn để. Qua đó, HS sẽ củng cố, mở rộng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
- KT-ĐG giúp HS nâng cao tỉnh thấn trách nhiệm trong học tập, cố gng đạt kết quả học tập cao hơn. ~ KT-ĐG cung cấp mối “liên hệ ngược trong”, giúp HS tự điểu chỉnh hoạt động học tập của bản thân các em: tạo cơ hội cho HS phát triển kỹ năng tự ĐG, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình hoặc các thiếu sót còn mắc phải; khuyến khích, động viên, thúc đẩy vị học tập. -KT-ĐG không phải chỉ với mục đích thu thập điểm số, phần loại HS ma con có ý nghĩa giáo dục HS thái độ học tập, giúp HS hiểu biết năng lực của mình rõ hơn, tránh thái độ tự tin hoặc tự tỉ quá đáng. + Đối với GV: -KT-ĐG giúp GV nắm được năng lực và trình độ của mỗi HS trong Idp do mình giảng dạy.
- KT-BG giúp GV nấm được những HS có tiến bộ hoặc sa sút trong học tập để có biện pháp giúp đỡ kịp thời. - KT-ĐG cung cấp mối "liên hệ ngược ngoài”, giúp GV kịp thời có các biện pháp khắc phục, điều chỉnh tốt quá trình đạy học. - KT-ĐG giúp GV thấy được hiệu quả của việc cải tiến nội dung, phương pháp hoäc hình thức tổ chức dạy học mà họ đang thực hiện [28]. Các yêu cầu khi KT-ĐG kết quả học tập [8], [11].
(45) Khi KT-ĐG kết quả học tập của HS, cần đảm bảo các yếu tố sau: 1.Tính khách quan + Việc BG kết quả học tập của HS phải khách quan và chính xác tới mức tối đa, tạo điều kiện để mọi HS bộc lộ thực chất năng lực của mình. + Việc tổ chức KT phải nghiêm tức, chặt chẽ ở các khâu. + Nội dung KT phải phù hợp với các yêu cầu chung của chương trình để ra, tránh yếu tố chủ quan khi ra để. Tính thường xuyên và hệ thống Việc KT-ĐG phải tiến hành thường xuyên và có tính hệ thống theo một kế hoạch đã được định trước.
Việc KT thường xuyên vữa giúp cho người học có điểu kiện củng cố kiến thức, tự ĐG năng lực học tập của mình đều đặn hơn; vừa giúp cho người dạy có đủ thông tin để điểu chỉnh kịp thời phương pháp giảng dạy của mình. Tính công khai + Việc tổ chức KT-ĐG phải được tiến hành công khai, theo một kế hoạch đã xác định khi thiết kế việc dạy học. Kết quả DG phải được công bố kịp thời. +ÐG phải kèm theo nhận xét để HS biết những sai sót của mình về kiến thức, kỹ năng và phương pháp suy nghĩ, từ đó trau dổi thêm năng lực học tập và tư duy.
Tuy nhiên, GV cẩn hết sức thận trọng trong việc nhận xét, đối xử với HS nhất là khi gặp tình huống không bình thường trong kiểm tra để việc KT-ĐG vừa có tính chính xác,vừa mang tính động viên. Tính phát triển Trước theo cách dạy truyền thống, quan niệm về ĐG còn phiến diện, GV giữ độc quyển vẻ ĐG.