Đặt vấn đề Việc duy trì bảo tồn các cây trồng bản địa cũng như khai thác một cách hiệu quả, bền vững phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế đang là xu hướng toàn cầu và trách nhiệm của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ an toàn đa dạng sinh học. Ở nước ta, sầu riêng (Durio zibethinus) không chi là giống cây trồng bản địa mà còn là một trong những loại cây ăn quả đặc sản và có giá trị kinh tế cao. Sầu riêng được trồng chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Nam Bộ, cụ thé là ở các tỉnh: Đắc Lắc, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ,. Theo báo cáo năm 2023 của Bộ Công Thương, diện tích trồng sầu riêng của cả nước vào khoảng 150.000 ha và sản lượng ước tinh đạt hơn 1.2 triệu tấn, đã thay thanh long chiếm vị trí thứ nhất trong kim ngạch xuất khâu với tỷ trọng 55,4% tong trị giá xuất khẩu trái cây, đạt 2,24 ty USD, tăng 430% so với năm.
Nguyên nhân cho sự tăng trưởng vượt bậc này là do vào tháng 07/2022, sầu riêng Việt Nam đã được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Ngoài ra, sầu riêng đông lạnh cũng được thị trường nhiều nước ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Do đó, trong các loại cây ăn trái nhiệt đới của nước ta, sầu riêng có tiềm năng phát triển rất lớn, góp phần tăng giá trị xuất khẩu và sự tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều giống sầu riêng khác nhau đang được trồng trên địa bàn các tỉnh, được biết đến nhiều nhất là Ri 6, Monthong, Khô qua xanh, Sữa hạt lép, Chín Hóa, Bí, Chuồng bò, Musang King, Cơm vàng nghệ hạt lép.
Tuy nhiên cho đến nay có rat ít thông tin về mối quan hệ di truyền giữa các dòng/giống sau riêng này. Bên cạnh đó, việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây sầu riêng cũng gặp nhiều khó khăn do trong quá trình trồng và lai tạo, nông dân thường chọn các giống từ nhiều nguồn khác nhau dua vào cây bố mẹ có năng suất cao và sinh trưởng tốt, chứ không được bình tuyển từ các cây đầu dong hay đánh giá về mặt di truyền. Chính sự đa dạng phong phú và không ồn định về nguồn gốc của các giống cây sầu riêng đã đưa đến một vấn đề là dù tên gọi giống nhau nhưng không chắc liệu chúng có thực sự đồng đều về đi truyền với nhau hay không, cũng như rất khó phân biệt được chất lượng bằng mắt thường dựa trên các đặc tính hình thái. Điều này dẫn đến làm giảm cả về chất lượng lẫn năng suất sầu riêng khi canh tác kéo dai.
Trước đây, công tác xác định, phân loại và đánh giá giống chủ yếu dựa vào hình thái. Hạn chế của phương pháp nay là kiểu hình có thé bị ảnh hưởng bởi môi trường, tuổi cây và một vai yếu tố khác. Đặc biệt ở giai đoạn cây con, việc phân loại dựa vào hình thái có độ tin cậy thấp do thiếu các tính trạng đặc trưng. Cùng với sự tiến bộ của sinh học phân tử, các chỉ thị phân tử đóng vai trò quan trọng trong công tác nhận diện giống.
Đây cũng chính là lí do các chỉ thị phân tử ngày càng được ứng dụng rộng rãi hơn trong phân tích, đánh giá nguồn gen cụ thể như đánh giá đa dạng di truyền, đặc tính di truyền và mối quan hệ di truyền của nhiều loại cây trồng. Mục tiêu đề tài Mục tiêu đề tài là xác định trình tự DNA mã vạch nhằm đánh giá sự khác biệt đi truyền của một số mẫu giống sầu riêng (Durio zibethinus) thu thập ở miền Nam Việt Nam. Tổng quan về sầu riêng 1. Đặc điểm phân loại Sầu riêng có nguồn gốc ở Đông Nam Á và mọc đại trong rừng của Malaysia: Sumatra và Kalimantan.
Trong chi Durio có rất nhiều loài nhưng chỉ có Durio zibethinus được thương mại hóa trên toàn thế gidi. sau riêng được phan loại thực vat học như sau: Giới (Regnum): Plantae Nganh (Phylum): Magnoliophyta Lép (Class): Magnoliopsida Bộ (Order): Malvales Ho (Family): Malvaceae (Bombacaceae) Chi (Genus): Durio Loai (Species): Durio zibethinus Hình 1. Sầu riêng (Durio zibethinus) (Nguồn: https://pfaf. Trong số 30 loài được biết đến thuộc chi Durio, sầu riêng (Durio zibethinus) là loại trái cây đặc trưng duy nhất của Đông Nam Á có mặt trên thị trường quốc tế (Teh và ctv, 2017) Loại sầu riêng trồng hiện nay củi day và có hương vị tốt thì không còn tìm thấy trong rừng do vậy người ta cho rằng sầu riêng đã được thuần hóa từ lâu, ở nước nao trước thì chưa rõ nhưng có nhiều giống nhất là Malaysia, ở đây có tới hơn 100 dòng vô tính đã được đăng ký, nhiều giống đã được đem trồng ở các nước láng giềng.
Sản xuất với quy mô công nghiệp, diện tích lớn, hiệu quả cao, phải ké đến Thái Lan. Đây là nước sản xuất và xuất khẩu sầu riêng lớn nhất, chiếm hơn 90% thị trường xuất khẩu, chủ yếu đến từ các tỉnh phía Đông và phía Nam Thái Lan (Noodaeng, 2017). Ngoài ra, sầu riêng cũng được trồng nhiều ở Malaysia, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, West Indies, vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi,. Về quỹ gen sau riêng lưu trữ của các nước này cũng rất lớn, đứng dau là Indonesia w có tới 5.270 giống, kế đến là Malaysia có 586 giống, Thái Lan có 169 giống, Philippines có 97 giống.
Có thể nói quỹ gen sầu riêng ở các nước trong vùng được xếp hàng đầu so với quỹ gen các cây ăn quả khác như xoài, chôm chôm, chuối, măng cụt, mit, bon bon (Nguyễn Minh Châu va ctv, 2000). Đặc điểm thực vật học Sầu riêng có bộ nhiễm sắc thể 2n = 56. Các nghiên cứu về bộ gen của loài này rất ít. Cho tới tháng 10 năm 2017, Teh và các cộng sự đã công bố bản dự thảo về bộ gen của sầu riêng Musang King- một trong những giống có giá trị thương mại cao.
Bản dự thảo này đã cung cấp một số đặc điểm quan trọng về bộ gen Durio zibethinus (Husin và ctv, 2018). Một số đặc điểm của bộ gen sau riêng được trình bay trong Bang 1. Một số đặc điểm của bộ gen sầu riêng Musang King đựa trên ban dự thảo bộ gen Durio zibethinus (Hebert va ctv, 2003) Đặc điểm Giá trị Kích thước bộ gen (tương đôi) 738 Mb Tổng chiều dai trình tự gen (kề cả khoảng trống) (bp) 715230256 Tổng chiều dai trình tự gen (không kế khoảng trồng) (bp) 712186256 Gen và gen giả 44795 Gen mã hóa protem 35832 Gen không mã hóa 1529 Chiều dài trung vị của gen (bp) 3160 Chiều dài trung bình của gen (bp) 4117 Chiều dài gen nhỏ nhất (bp) 68 Chiều dài gen lớn nhất (bp) 117665 Chiều dài trình tự mã hóa trung bình (bp) 1700.4 Số lượng exon trung bình trong mỗi gen 5.8 Số lượng exon tối da cho mỗi bản phiên mã 79 Hàm lượng GC 32.5% Sầu riêng là cây thân gỗ, cao lớn. Cây được trồng từ hạt có thể cao tới 20 — 40 mét, trong khi cây ghép, cây chiết cao từ 8 đến 12 mét.
Thân thang, cành thường nằm ngang, phân cành thấp, tán lá thưa. Lá sầu riêng thuộc loại lá đơn, mọc nách, dạng tròn hơi dài, gốc lá tròn hay tù, có lông hình vay, mặt trên màu xanh sáng, mặt dưới có lông mịn, màu hơi vàng nâu óng ánh. Chiều dài từ 12 đến 20 cm, rộng 4 đến 6 cm. Cuống lá dày, dài từ 1,5 đến 3 cm, đường kính từ 0,15 đến 0,25 cm.
Rễ sầu riêng chắc khỏe, nếu gặp điều kiện thuận lợi (mực nước ngầm thấp, không có tang sỏi đá phía dưới, .) rễ có thé đâm sâu tới 5 — 6 m. Sự phân bố của rễ phụ thuộc vào nhiều yêu tố như chất đất, mực nước ngầm cao hay thấp, loại cây giống (cây giống được gieo từ hat hay từ cảnh chiết, ghép.) kỹ thuật chăm sóc tốt hay không tốt,. Hoa sầu riêng thuộc loại lưỡng tính, mọc thành từng chùm từ 3 đến 30 hoa (hoặc hơn) trên những cành lớn, ít mọc ở những chỗ nhỏ và không mọc ở đầu cành như một số loại cây ăn trái khác (nhãn, vải, chôm chôm,. Số lượng hoa rất nhiều, trên một cây có đến 20.
Đài có 5 cánh, đài phụ phía ngoài có 3 cánh, vành hoa 5 cánh màu kem hơi xanh. Nhị đực dài hơn cánh, gồm 5 bó với nhau ở phần gốc. Bầu hình trái xoan, có vòi dài, đầu nhụy tròn có 5 mảnh, khi chín có nhựa dính. Từ khi bắt đầu nở đến khi thành hoa mất 2 - 3 ngày (Sundari và ctv, 2019).
Sau khi đậu trái, từ tuần lễ thứ 5 -13 trái tăng trưởng rất nhanh, sau đó chậm dan, đến tuần thứ 15 — 16 thì chín. Vỏ trái có nhiều gai hình chop nhọn, gai có hình dang và kích thước lớn nhỏ tùy giống. Màu sắc vỏ trái tùy thuộc vào giống, có giống màu xanh nhạt (khổ qua xanh), có giống màu vàng đồng (sữa hạt lép Bến Tre). Tình hình sản xuất và thị trường sầu riêng 1.
Tình hình sản xuất Trong số 30 loài được biết đến thuộc chỉ Durio, Durio zibethinus được biết đến như một loại nông sản có giá trị thương phẩm cao ở khu vực Đông Nam Á, chủ yếu là Thái Lan, Malaysia, Indonesia (Teh và ctv, 2017). Cũng theo Teh và cộng sự. có hơn 200 giống sầu riêng khác nhau, được phân loại chủ yếu vào đặc tính trái, hương vị và mùi. Thị hiểu của người tiêu dùng là yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của từng giống ở mỗi quốc gia.
Ví dụ như giống Musang King có độ ngọt ít và mùi nồng rất được ưa chuộng và trồng nhiều ở Malaysia và Singapore. Trong khi đó, các giống có mùi nhẹ hơn và vị ngọt hon như Monthong lại phổ biến ở Thái Lan. Ở Malaysia, sầu riêng được gọi là vua của các loại trái cây. Day cũng là một loại quả mang tính biểu tượng và có giá trị cao ở nhiều nước (Husin và ctv, 2018) 1.
Thị trường Theo báo cáo năm 2023 của tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations- FAO), xuất khẩu sầu riêng toàn cầu đã tăng hơn 10 lần chi trong thập ky qua, từ khoảng 80.000 tan năm 2003 lên tới hơn 870. Nhu cầu nhập khâu từ Trung Quốc tăng mạnh chính là lý do cho sự mở rộng thương mại này. Trước đây, trên thế giới có 3 nước xuất khâu sầu riêng chủ yếu là Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Trong đó, Thái Lan là nước sản xuất và xuất khẩu sầu riêng lớn nhất, kế đến là Malaysia rồi mới đến Indonesia (Nguyễn Minh Châu và ctv, 2000).
Singapore, Hồng Kông và Đài Loan là ba nước nhập khẩu sau riêng chính trên thé giới.