MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu chung về cửa hàng HandyOne 1. Vị trí địa lý Cửa hàng HandyOne có địa chỉ số 450, đường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Cửa hàng có mặt tiền nằm trên đường Kim Mã là con đường giao thông quan trọng và huyết mạch trong quận Ba Đình cũng như thành phố Hà Nội.
Cửa hàng HandyOne có vị trí thuận lợi trong trung tâm thành phố Hà Nội, với số lượng các bạn trẻ qua lại mỗi ngày rất lớn. Cơ cấu tổ chức • Khu vực kinh doanh: + Khu vực bán hàng + Khu vực kho hàng + Quầy thanh toán • Nhân lực Số lượng nhân viên cửa hàng gồm 2 người, 1 người phụ trách việc trông coi, bán hàng và thanh toán trực tiếp tại cửa hàng. 1 nhân viên giao hàng có nhiệm vụ giao các đơn hàng trong khu vực nội thành, hoặc đến bưu điện chuyển hàng nếu các đơn hàng ở xa. Một số mẫu biểu trong cửa hàng CỬA HÀNG HANDYONE Mã HĐ:……….
-------o0o-------- Đ/C: 450 Kim Mã – Ba Đình - HN Fax: 0123456789 – 046 245 245. HÓA ĐƠN MUA HÀNG (Ngày lập: …/…/20…) Tên khách hàng:………………………………………………………. Số điện thoại: ………………………………………………………… Đơn Giá Thành tiền STT Sản phẩm Số lượng (VNĐ) (VNĐ) 1 2 3 Tổng tiền:……………………………………………………………………. Nhân viênKhách hàng (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên) Hoá đơn mua hàng 8 CỬA HÀNG HANDYONE -------o0o-------- BÁO CÁO TỔNG THU THÁNG…….
STT Mã hóa đơn Ngày lập Người lập Số tiền Tổng thu: Số tiền bằng chữ: …………………………………………………. Chủ của hàng Người báo cáo (kí tên) (kí tên) Báo cáo tổng thu 9 CỬA HÀNG HANDYONE Mã HĐ:………. -------o0o-------- Đ/C: 450 Kim Mã – Ba Đình - HN Fax: 0123456789 – 046 245 245. DANH SÁCH SẢN PHẨM CẦN BỔ SUNG (Ngày lập: …/…/20…) STT Tên sản phẩm Số lượng Ghi chú 1 2 Nhân viên (Ký và ghi rõ họ tên) Đơn cần bổ xung sản phẩm 10 Chương 2 KHẢO SÁT HỆ THỐNG 2.
Mô tả bài toán Website được xây dựng là một website bán đồ Handmade trực tuyến qua mạng nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách hàng. Vì vậy em đưa ra đặc tả bài toán như sau: Khách hàng muốn mua hoặc xem các sản phẩm Handmade thì vào trang web để tham khảo mặt hàng và giá của tất cả các sản phẩm Handmade đã được đưa lên trang web. Khi khách muốn mua bất kì một sản phẩm nào đó thì bấm vào biểu tượng thêm vào giỏ hàng của sản phẩm mình muốn mua. Sản phẩm sẽ được thêm vào giỏ hàng, khi nào muốn thanh toán khách hàng sẽ bấm vào giỏ hàng và bấm vào ô thanh toán.
Sau khi điền các thông tin cần thiết, hệ thống sẽ đưa ra thông báo cho khách hàng 2. Khảo sát hiện trạng Đây là một website bán hàng và giới thiệu rộng rãi các sản phẩm của cửa hàng đến người tiêu dùng với các thông tin chi tiết cho từng sản phẩm cũng như giá cả một cách chính xác nhất. Khách hàng: Là những người có nhu cầu mua sắm hàng hoá và có thể xem trước thông tin, giá cả của sản phẩm cũng như thao tác đặt hàng trên mạng(khác với việc đạt hàng trực tiếp tại công ty, khách hàng hoàn toàn tự thao tác thông qua các bước cụ thể để có thể mua hàng). Trên website các sản phẩm được sắp xếp và phân theotừng loại sản phẩm giúp cho khách hàng dễ dàng tìm kiếm.
Nếu khách hàng muốn biết nhiều thông tin hơn về một sản phẩm bất kì trên danh mục sản phẩm, thì cần chọn sản phẩm đó, các thông tin về sản phẩm như: 11 đơn giá, hình ảnh, nh, mô ttả chi tiết, lựa chọn màu sắc…, bên ên cạnh c là ô chọn số lượng sản phẩm m muốn mua vvà hình ảnh của nút giỏ hàng. Sau khi chọn ch xong sản phẩm khách hàng àng pphải chọn vào giỏ hàng của mình đểể xem và v thực hiện quá trình thanh toán. N Nếu đồng ý bấm vào ào nút thanh toán thì khách hàng sẽ s được chuyểnn sang trang thanh toán. Ở đây khách hàng phải điề các thông tin ải điền cần thiết, hệ thống ng sẽ ki kiểm tra và xác lập đơn đặt hàng.
Cuối ối cùng, c khách hàng cần bấm xác nhận một ột llần nữa. Khách hàng có thểể tham kh khảo về giá cả sản phẩm, m, xem tin tức, tứ các bài hướng dẫn tự làm đồ handmade hay các dịch vụ từ website của cửa hàng. Dưới đây làà mô hình ho hoạt động sơ lược của khách hàng àng trong hệ h thống trang web Hình 2. 11Lược đồ tổng quan về hoạt động củaa khách hàng h 12 Nhân viên bán hàng: Là người trực tiếp trông coi cửa hàng, tiếp nhận các đơn đặt hàng của khách hàng để xử lý.
Nhà quản lý sẽ cung cấp cho nhân viên bán hàng một username và password để đăng nhập vào hệ thống và thực hiện các chức năng chính của mình. Nếu như quá trình đăng nhập thành công thì nhân viên đó có thể thực hiện các công việc: Xem các mặt hàng trên hệ thống, cập nhật thông tin các sản phẩm, tiếp nhận đơn đặt hàng, kiểm tra đơn đặt hàng và xử lý đơn đặt hàng, tiếp nhận và xử lý các ý kiến phản hồi của khách hàng. Mục tiêu: • Quản lý xử lý các đơn đặt hàng một cách dễ dàng • Thêm, sửa, xoá thông tin sản phẩm vào cơ sở dữ liệu Nhân viên giao hàng: Là người có thể truy câp vào hệ thống xem thông tin các đơn hàng, trạng thái, tên người xử lý các đơn hàng đó. Nhân viên giao hàng sẽ tiếp nhận các đơn hàng có tên của mình và xử lý đơn hàng đó.
Sau khi nhân viên đó giao hàng cho khách, có thể cập nhật lại tình trạng đơn hàng trên hệ thống. Nhà quản trị: Là người có toàn quyển sử dụng các chức năng trên hệ thống. Sau khi đăng nhập vào hệ thống bằng tải khoản admin có thể xem và thực hiện tất cả các chức năng trên website. Ngoài ra chỉ có nhà quản trị mới có thể tạo tài khoản và phân quyền cho nhân viên trên hệ thống, xem được các báo cáo thống kê về tình hình thu, chi, thống kê doanh thu của cửa hàng 2.
Công nghệ sử dụng 2. Ngôn ngữ PHP PHP (viết tắt hồi quy "PHP: Hypertext Preprocessor") là một ngôn ngữ lập trình kịch bản hay một loại mã lệnh chủ yếu được dùng để phát triển các ứng dụng viết cho máy chủ, mã nguồn mở, dùng cho mục đích tổng quát. Nó rất thích hợp 13 với web và có thể dễ dàng nhúng vào trang HTML. Do được tối ưu hóa cho các ứng dụng web, tốc độ nhanh, nhỏ gọn, cú pháp giống C và Java, dễ học và thời gian xây dựng sản phẩm tương đối ngắn hơn so với các ngôn ngữ khác nên PHP đã nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ lập trình web phổ biến nhất thế giới.
PHP được phát triển từ một sản phẩm có tên là PHP/FI. PHP/FI do Rasmus Lerdorf tạo ra năm 1994, ban đầu được xem như là một tập con đơn giản của các mã kịch bản Perlđể theo dõi tình hình truy cập đến bản sơ yếu lý lịch của ông trên mạng. Ông đã đặt tên cho bộ mã kịch bản này là 'Personal Home Page Tools'. Khi cần đến các chức năng rộng hơn, Rasmus đã viết ra một bộ thực thi bằng C lớn hơn để có thể truy vấn tới các cơ sở dữ liệu và giúp cho người sử dụng phát triển các ứng dụng web đơn giản.
Rasmus đã quyết định công bố mã nguồn của PHP/FI cho mọi người xem, sử dụng cũng như sửa các lỗi có trong nó đồng thời cải tiến mã nguồn. MySQL MySQL là hệ quản trị cơ sở dữ liệu tự do nguồn mở phổ biến nhất thế giới và được các nhà phát triển rất ưa chuộng trong quá trình phát triển ứng dụng. Vì MySQL là cơ sở dữ liệu tốc độ cao, ổn định và dễ sử dụng, có tính khả chuyển, hoạt động trên nhiều hệ điều hành cung cấp một hệ thống lớn các hàm tiện ích rất mạnh. Với tốc độ và tính bảo mật cao, MySQL rất thích hợp cho các ứng dụng có truy cập CSDL trên internet.
MySQL miễn phí hoàn toàn cho nên bạn có thể tải về MySQL từ trang chủ.Nó có nhiều phiên bản cho các hệ điều hành khác nhau: phiên bản Win32 cho các hệ điều hành dòng Windows, Linux, Mac OS X, Unix. MySQL là một trong những ví dụ rất cơ bản về Hệ Quản trị Cơ sở dữ liệu quan 14 hệ sử dụng Ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc (SQL). MySQL được sử dụng cho việc bổ trợ PHP, Perl, và nhiều ngôn ngữ khác, nó làm nơi lưu trữ những thông tin trên các trang web viết bằng PHP hay Perl. Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML HTML là viết tắt của cụm từ HyperText Markup Language, tạm dịch là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản được sử dụng để tạo một trang web, trên một website có thể sẽ chứa nhiều trang và mỗi trang được quy ra là một tài liệu HTML.
Về cơ bản HTML được xây dựng trên cách tổ chức của XML.Một tài liệu HTML được hình thành bởi các phần tử HTML (HTML Elements) được quy định bằng các cặp thẻ (tag), các cặp thẻ này được bao bọc bởi một dấu ngoặc nhọn (ví dụ <html>) và thường là sẽ được khai báo thành một cặp, bao gồm thẻ mở và thẻ đóng (ví dụ <strong> và </strong>). Các văn bản muốn được đánh dấu bằng HTML sẽ được khai báo bên trong một cặp thẻ. Nhưng một số thẻ đặc biệt lại không có thẻ đóng và dữ liệu được khai báo sẽ nằm trong các thuộc tính (ví dụ như thẻ <img>). Vì HTML chỉ đơn giản là những chiếc thẻ như trên (tất nhiên còn rất nhiều thẻ khác mấy thẻ trên), mà không hề có những cú pháp logic như trong lập trình, kiểu như HTML không thể giúp bạn giải một bài toán hay giúp bạn tính toán xem tháng vừa rồi bạn đã xài bao nhiêu tiền giấy vệ sinh.
Đã trả lời xong câu hỏi Vì sao HTML không gọi là ngôn ngữ lập trình. HTML có số lượng thẻ không nhiều như đếm sao trên trời, nó là hữu hạn và bạn có thẻ nhớ được 10% trong số đó, số còn lại có thể google ra bằng từ khoá “HTML tag b” để xem thẻ b nó như thế nào, các thẻ khác tương tự. Vì là có rất nhiều thẻ khác nhau, thẻ a tạo ra link, thẻ p tạo ra đoạn văn, thẻ table tạo ra bảng, 15 thẻ div tạo ra vùng, thẻ input cho phép nhập liệu …. (tra cứu tại W3Schools) nên nó tạo ra nhiều kiểu văn bản khác nhau (gọi là siêu văn bản) Với tất cả những gì mà từ bé đến giờ bạn nhìn thấy trên trình duyệt thì chúng có nguồn gốc từ HTML.