CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO DỊCH DAN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHAM HINH THUC VA HAU QUA PHAP LY CUA GIAO DICH DAN SỰ VÔ HIEU DO VI PHAM HÌNH THỨC 1. Khái quát chung về giao dịch dân sự 1. Khái niệm giao dịch dân sự Theo nghĩa thông thường “giao dịch” được hiểu là “sự có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau” [1, tr. Giao dich dân sự được xem là một trong những căn cứ phô biến và quan trọng nhất dé tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong việc chuyền đổi tài sản và cung cấp dịch vụ dé đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của tất cả các thành viên trong xã hội [13, tr.
Có thể khăng định răng, giao dịch dân sự là một trong những sự kiện pháp lý cơ bản va phổ biến nhất dé tạo ra các quan hệ pháp luật dân sự. Ở góc độ thực tẾ, giao dịch dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Từ góc độ pháp lý, theo định nghĩa trong Từ điển Luật học “giao dịch dân sự” được mô tả là “hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tô hợp tác, nhằm làm phat sinh, thay đôi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” [9]. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có các quy định riêng về giao dịch dân sự trong pháp luật dân sự.
Ví dụ, Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp không có chế định giao dịch dân sự mà tập trung vào việc quy định các vấn đề liên quan đến hợp đồng và thừa kế. Tương tự, Bộ luật Dân sự của Nhật Bản cũng không có quy định về giao dịch dân sự, song trong lĩnh vực nghiên cứu pháp lý, khoa học pháp lý đã đưa ra một khái niệm như sau: “Giao dịch dân sự là hành vi hợp pháp nhằm tạo ra, thay đổi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” [10, tr. Điều 153 trong Bộ luật Dân sự của Liên bang Nga có quy định rằng “các giao dịch dân sự là hành động của công dân và các tô chức pháp nhân dé thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” [7]. Tương tự, Điều 133 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020 cũng đưa ra một định nghĩa tương tự về giao dịch dân sự, đó là: “Hành vi pháp luật dân sự là hành vi mà chủ thể dân sự thông qua biểu thị ý chí (tuyên bố ý chí) dé xác lập, thay đổi, cham dứt quan hệ pháp luật dân sự” [8].
Có thê thấy, hầu hết các quốc gia không đưa ra định nghĩa giao dịch dân sự dưới dạng liệt kê các loại giao dịch cụ thể, mà thay vào đó, họ khái quát giao dich dân sự như tat cả các hành vi của các chủ thé tham gia vào quan hệ dân sự một cách tự nguyện dé đạt được mục đích nhất định và không vi phạm quy định pháp luật. Trong pháp luật dân sự của Việt Nam, khái nệm về giao dịch dân sự đã được xác định thông qua phương pháp liệt kê, như được quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, giao dịch dân sự được định nghĩa rộng rãi, bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương như sau: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [4, tr. Điều nay đồng nghĩa với việc giao dịch dân sự có thể được phân chia thành hai dạng chính, đó là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương.
Từ những phân tích nêu trên, giao dịch dân sự có thể được hiểu như sau: Giao dich dân sự là hop đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương lam phát sinh, thay đổi, cham dứt quyển và nghĩa vụ dân sự. Điều này thé hiện tinh chất đa dạng và toàn diện của giao dịch dân sự trong hệ thống pháp luật, bao gồm cả các hình thức đồng thuận như hợp đồng và các biện pháp pháp lý đơn phương mà bên thực hiện có thé thực hiện dé tác động lên quyền và nghĩa vu dân sự. Đặc điểm của giao dịch dân sự 10 Giao dịch dân sự là một hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực pháp luật, mà trong đó các chủ thé thé hiện ý chí của mình dé tạo ra, thay đổi hoặc cham dứt quyên và nghĩa vụ dân sự. Hoạt động này có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân và tô chức, đồng thời không ngừng diễn ra dé đáp ứng các nhu cầu da dạng của con người.
Giao dịch dân sự thường mang những đặc điểm chung nhất định: Thứ nhất, sự thê hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch là vô cùng quan trọng. Khi tham gia vào một giao dịch dân sự, mỗi chủ thể đều hướng đến những mục tiêu và ý muốn cụ thể và họ thực hiện các hành động pháp lý dé đạt được những mục tiêu này. Việc thé hiện ý chí của các bên thông qua hành động pháp lý trong giao dịch là yếu tố cốt yếu, và nó được xem như một điều bắt buộc, quyết định để giao dịch có giá trị pháp lý. Các chủ thể phải diễn đạt ý chí của mình một cách rõ ràng thông qua các hành động pháp lý dé bảo đảm rang họ sẽ đạt được kết quả như mong đợi.
Từ thế ky XVIII, nguyên tắc tự do ý chí trong giao dich dân sự đã phát triển tại Pháp và đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Ban đầu, nguyên tắc này được xem như nguyên tắc tôn trọng ý chí, cho phép các chủ thê tự do diễn đạt ý chí mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ yếu tố nào, ké cả pháp luật. Tuy nhiên, sau đó, nguyên tắc này đã được hiểu rõ hơn và được điều chỉnh dé phủ hợp với các quy định pháp luật, bao đảm tính công bang và bình dang cho tất cả các bên tham gia giao dịch. Khi không có sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch thì giao dịch dân sự đã được xác lập không thể thay đổi.
Điều này đảm bảo tính vững chắc và ôn định của giao dịch, và các bên tham gia có thể yên tâm rằng giao dịch sẽ được thực hiện theo ý chí của họ mà không bị can thiệp từ bất kỳ bên thứ ba nào, bao gồm cả Nhà nước. 11 Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng khi các bên tham gia vào giao dịch, không có sự cân bang hoàn toàn trên mọi phương diện. Sự chênh lệch về tài chính và quyền lực giữa các bên dẫn đến sự không bình đăng trong quan hệ giao dịch. Đôi khi các bên có tiềm lực mạnh hơn thường chiếm ưu thế và các bên yếu thế hơn thường bị phụ thuộc.
Do đó, nguyên tắc tôn trọng ý chí trở thành vấn đề hình thức, điều này làm cho giao dịch không còn mang ý nghĩa đối với các chủ thé tham gia trong việc đáp ứng nhu cầu của họ. Mặt khác, trong quá trình tham gia giao dịch để đáp ứng nhu cầu cá nhân, đôi khi các chủ thể đã xem nhẹ, coi thường thiệt hại của người khác cũng như lợi ích công cộng. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước trở nên cần thiết dé điều chỉnh các giao dich này. Quy định pháp luật được xây dựng dé bảo dam răng các chủ thé tham gia vào giao dịch dân sự không bi áp đặt và đồng thời không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác cũng như lợi ích công cộng.
Vì vậy, việc thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch phải tuân thủ trong những giới hạn được pháp luật quy định. Thứ hai, tất cả các bên tham gia vào giao dịch đều phải tham gia tự nguyện. Tự nguyện là cơ sở tạo thành nền tảng cho việc hình thành giao dịch dân sự nhằm biểu thị rõ ý chí chung của các bên. Yếu tố này rat quan trong dé giao dịch có thê được thiết lập và được xem xét là hợp lệ.
Trong bối cảnh giao dịch dân sự, sự tham gia tự nguyện của tất cả các chủ thể là điều bắt buộc, vì họ tham gia giao dịch với mục đích cụ thé dé đáp ứng nhu cau về tai chính hoặc tinh thần cá nhân của minh. Dé bảo đảm mục tiêu này, các bên tham gia giao dich cần phải có năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp những người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi, họ chi có thé tham gia vào một số giao dịch cụ thé hoặc cần có người đại diện. Những bên liên quan đến giao dịch cần phải tuân thủ nguyên tắc tự nguyện và tuân thủ quy định của pháp luật.
12 Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi có nhiều bên tham gia cùng một giao dịch, việc đạt được sự thống nhất về ý chí và mục đích có thể trở nên phức tap. Do đó, các chủ thé tham gia giao dịch cần phải tiến hành thoả thuận tự nguyện với nhau dé đảm bảo rằng mỗi bên đều đạt được mục tiêu của mình, đồng thời thừa nhận cam kết cùng nhau thực hiện giao dịch đó. Nếu sự cam kết và thỏa thuận không phản ánh đúng với ý chí của tất cả các bên thì giao dịch dân sự đó sẽ không có giá trị pháp lý. Nguyên tắc này là nguyên tắc chung được áp dụng trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Lao động và các văn bản liên quan. Thứ ba, luôn có sự phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch. Giao dịch dân sự có đặc trưng bởi tính đa chiều và phức tạp, liên quan đến sự phát sinh, thay đổi và cham dứt các quyền và nghĩa vụ của những chủ thé tham gia. Những yếu tố này thường phát sinh từ sự thỏa thuận và hành vi pháp lý giữa các bên liên quan.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi thỏa thuận hay hành vi pháp lý đơn phương đều có thé được xem như là giao dịch dân sự. Đề được coi là giao dịch dân sự, thỏa thuận hoặc hành vi đó phải dẫn tới việc phát sinh, thay đôi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ dan sự của các chủ thé theo đúng quy định của pháp luật.