CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2.056,50 km2 là trung tâm kinh tế văn hóa và khoa học kĩ thuật. Thành phố rất đa dạng về văn hóa, có 13 tôn giáo và 54 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn [4]. Thành phố cũng là một trong những những tỉnh thành thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước [5].
Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh diễn ra nhanh chóng đã thúc đẩy mức tăng trưởng kinh tế của thành phố. Tại thành phố hiện có hàng trăm khu công nghiệp lớn nhỏ đã tạo ra một khối lượng việc làm khổng lồ cho dân cư. GDP năm 2011 của thành phố là 503.222 tỷ đồng tăng 10,3% so với năm 2010 và mức tăng trưởng GDP của thành phố 6 tháng đầu năm 2012 đạt 287.162 tỷ đồng, tăng 8,1% [6]. Điều này đã đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước.
Những yếu tố trên là nguyên nhân chính làm cho thành phố Hồ Chí Minh trở thành thị trường lao động hấp dẫn và thu hút hàng ngàn lượt người nhập cư từ các tỉnh thành phố khác trên cả nước đến thành phố Hồ Chí Minh để đến học tập, lao động và sinh sống. Dân số thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị tính: người) 2005 2007 2008 2009 2010 6.446 Nguồn: Trang 24, Niên giám Thống kê, Cục thống kê TP.HCM năm 2010 Dân số của thành phố năm 2009 là 7.864 người, trong đó nam là 3.734 người chiếm 47,97% % và nữ là 3.130 người chiếm 52, 03 % dân số thành phố. Dân nhập cư từ các tỉnh chiếm 30.1% dân số, tức khoảng 2.125 người trên tổng số dân thành phố (Theo Thống kê về dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục thống kê). Đến cuối năm 2010, dân số thành phố Hồ Chí 19 Minh đã là 7.446 người, trong đó nam là 3.557 người chiếm 47,7 % và nữ là 3.889 người chiếm 52,3 % dân số toàn thành phố.
Dân nhập cư từ các tỉnh thành phố khác vào thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng tăng và đã tăng 17,8% so với 2005 [7]. uận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường theo nghị định 130/NĐ – CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ về việc thành lập các quận Bình Tân, Tân Phú và các phường trực thuộc; điều chỉnh địa giới hành chính phường thuộc quận Tân Bình; thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Bình Chánh, Cần Giờ và Hóc Môn của thành phố Hồ Chí Minh. uận được thành lập từ các xã thị như thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hòa, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây. Tính đến cuối năm 2011, uận Bình Tân có dân số hơn 615.784 hộ gia đình, 130 khu phố và 1.586 tổ dân phố – đây là địa phương cấp huyện có dân số đông nhất trong số 24 quận/huyện của thành phố Hồ Chí Minh [8].
Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, có phường của quận hầu như không còn đất nông nghiệp. Trên địa bàn quận hiện có hai khu công nghiệp là khu công nghiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc thu hút một số lượng lớn người nhập cư sinh sống trên địa bàn. Hiện nay nhiều mặt kinh tế - xã hội của quận phát triển nhanh theo hướng đô thị. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Việt Nam, quận Bình Tân là đơn vị cấp huyện có dân số lớn nhất trong số các đơn vị hành chánh cấp huyện của cả nước [9].
Dân số của quận tăng rất nhanh và tăng liên tục từ năm 2005 đến nay. Dân số quận Bình Tân (đơn vị tính: người) 2005 2007 2008 2009 2010 418.335 Nguồn: Trang 26, Niên giám Thống kê của Cục thống kê TP.HCM năm 2010 20 Dân số quận Bình Tân tăng chủ yếu do dân nhập cư từ các địa phương khác đến sinh sống, học tập và lao động. Số dân nhập cư chiếm trên 50% số dân của toàn quận [10]. Nguyên nhân của thực trạng này là do đặc thù trên địa bàn quận Bình Tân hiện nay có hai khu công nghiệp do Ban quản lý các khu công nghiệp thành phố quản lý đó là khu công nghiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc.
Ngoài ra còn có Khu công nghiệp giày da POUYUEN là khu công nghiệp 100% vốn nước ngoài chuyên sản xuất giày da, và còn có 4 cụm công nghiệp do quận Bình Tân quản lý với tổng diện tích là 31,4 ha [11]. Phường Tân Tạo A, quận Bình Tân cũng được thành lập từ Nghị định số 130/2003/NĐ – CP. Phường có diện tích đất tự nhiên là 1.233,66 ha, gồm 07 khu phố, 60 tổ dân phố. Địa giới hành chính của phường Tân Tạo A hướng Đông giáp các phường Bình Trị Đông B, An Lạc; hướng Tây và Nam giáp huyện Bình Chánh; hướng Bắc giáp phường Tân Tạo.
Dân số tính đến cuối năm 2011 trên địa bàn phường là 60. Trong đó thường trú là 12.728 nhân khẩu và tạm trú 47. Tổng số dân trên địa bàn phường liên tục tăng trong những năm qua, do đặc điểm trên địa bàn phường Tân Tạo A có khu công nghiệp vì vậy tập trung rất đông dân nhập cư Phường đã có những bước phát triển nhanh về các mặt kinh tế, văn hóa – xã hội. Thế mạnh của phường là phát triển khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, thương mại và dịch vụ, đặc biệt có khu công nghiệp Tân Tạo trú đóng trên địa bàn.
Dân số phường Tân Tạo A (đơn vị tính: người) Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 28.123 Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2011, phường Tân Tạo A. Về đặc điểm kinh tế xã hội của phường Tân Tạo A của quận Bình Tân. Trong năm 2011, kinh tế của phường luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở 21 mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp. Về văn hóa – xã hội, phường chú trọng nhiều đến việc phát triển văn hóa – xã hội đặc biệt là an sinh xã hội bằng những hành động cụ thể.
Nhiều kế hoạch, chương trình đã được thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực [12]. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Việc tiếp cận và hội nhập của người nhập cư vào các đô thị là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra khi nghiên cứu về người nhập cư. Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người nhập cư, trong đó có nhiều nghiên cứu quan tâm đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nhập cư. Đặc biệt, yếu tố giới được chú trọng xem xét và đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nhập cư.
Qua tổng quan các tài liệu, tác giả đã tiếp cận một số tài liệu nghiên cứu của một số tác giả sau: 1. Sơ lược một số nghiên cứu trên thế giới J.Beegle khi nghiên cứu di dân từ nông thôn đến thành thị ở các quốc gia phát triển cho rằng sự thích nghi với cuộc sống đô thị, thái độ của 22 chính quyền và cộng đồng nơi đến đã làm hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nhập cư. Cả hai tác giả này đều sử dụng những khía cạnh khác nhau để nghiên cứu vấn đề hội nhập của người nhập cư. Trong khi đó, Dorothy J.Solinger đã dùng chỉ báo đặc điểm của người nhập cư và cộng đồng nơi đến của người nhập cư để phân tích vấn đề hội nhập của nhóm người nhập cư.
Cả ba tác giả nêu trên đã sử dụng những hướng tiếp cận khác nhau về vấn đề hội nhập của người nhập cư nhưng tất cả có điểm chung là phác họa được bức tranh vấn đề hội nhập và tiếp cận những nguồn lực tại nơi đến trong quá trình di cư, trong đó nhóm nữ nhập cư sẽ gặp nhiều khó khăn và rào cản hơn so với các nhóm xã hội khác. Sơ lược một số nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu các đề tài về người nhập cư đặc biệt là phụ nữ nhập cư. Trong hạn chế của nguồn tài liệu tiếp cận, tác giả tổng quan một số đề tài của các tác giả đi trước đã nghiên cứu về người nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài “Hành trình hội nhập của di dân tự do vào thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ góc độ kinh tế và xã hội” – Chi cục phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh – Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Trọng Liêm.
Đề tài đã nghiên cứu hành trình hội nhập về việc làm, chỗ ở, mạng lưới xã hội, tâm lí – đời sống của dân nhập cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể nghiên cứu như sau: nghiên cứu số lần di chuyển, tình trạng sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh (việc làm, nhà ở, y tế,…), nghiên cứu mạng lưới xã hội, tâm lí, lối sống, ảnh hưởng của chính sách đến đối tượng di dân tự do. Trong đề tài này, tác giả không đề cập đến yếu tố giới. Đề tài “Lao động nữ nhập cư tự do vào thành phố” của Tiến sĩ Hà Thị Phương Tiến, Tiến sĩ Hà uang Ngọc (năm 2000, nghiên cứu tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh), trong nghiên cứu trên, các tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu những gì có ý nghĩa đằng sau sự di cư tự do của nữ, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
Phần nội dung nghiên cứu, các tác giả tìm hiểu những thông tin cơ bản của bản thân và gia đình người 23 nữ nhập cư liên quan đến lịch sử sự chuyển cư, những thông tin về kinh tế, điều kiện sống và làm việc, tác động của việc làm với sức khỏe phụ nữ, các áp lực xã hội, những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc di cư tự do, những tâm tư nguyện vọng và ý kiến của người lao động. Đề tài “Vai trò của lao động nhập cư trong sự phát triển kinh tế – xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh – Luận văn Thạc sĩ Triết học của Lê Thị Hờ Rin – 2006”. Đề tài nhằm xác định cơ sở kinh tế, xã hội của quá trình di dân và lao động nhập cư, nhấn mạnh quan điểm của chủ nghĩa Mác về vai trò quyết định của tồn tại xã hội, dân số với ý thức xã hội, thực trạng của lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh, giải pháp quản lí lao động nhập cư.