Chương 1 cũng sẽ đề cập đến các khái niệm liên quan đến tiếp xúc văn hóa như XĐVH, giao lưu và tiếp biến văn hóa, VHDN, VHƯX trong doanh nghiệp để từ đó có cơ sở phân tích VHƯX của nhân viên người Việt trong DNHQ. Văn hóa và các lý luận liên quan đến VHƯX 1. Văn hóa Nói đến định nghĩa về văn hóa, định nghĩa về văn hóa của E.Tylor (1871)5 được xem là một trong những định nghĩa đầu tiên về văn hóa và được trích dẫn trong rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa.Tylor, Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội (tr. Theo Hofstede (2014), văn hóa luôn phải là một hiện tượng tập thể, là những gì được học ở đó và là một chương trình tinh thần tập thể để phân biệt những người tạo nên một nhóm hoặc loại với các thành viên của nhóm hoặc loại khác.
Văn hóa được học hỏi, không phải di truyền (tr. Để định nghĩa về văn hóa, các học giả Việt Nam cũng đưa ra một số nhận định, điển hình như trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc (2006), văn hóa được định nghĩa như sau: 5 E.Tylor (1871), Primitive culture, bản dịch tiếng Việt “Văn hóa nguyên thủy”, Huyền Trang dịch. Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng và được in nhiều lần, đưa tác giả lên hàng những nhà nghiên cứu có uy tín về văn hóa. 11 Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng.
Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác (tr. Đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được các học giả trên thế giới và trong nước đề cập, phân tích, lý luận theo những quan điểm, góc nhìn khác nhau như văn hóa học, xã hội học, v. Mỗi định nghĩa đó được đưa ra đều nêu lên được đặc trưng, chức năng và vai trò khác nhau của văn hóa. Tham khảo, hệ thống hóa các khái niệm về văn hóa của các học giả phương Tây và các học giả Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (2014, tr.30-56) cho rằng tuy nội dung các định nghĩa có khác nhau nhưng có thể thống kê theo hai cách hiểu chính: hiểu theo nghĩa hẹp và hiểu theo nghĩa rộng trên cơ sở phân chia thành hai loại định nghĩa là miêu tả và nêu đặc trưng.
Trần Ngọc Thêm xếp định nghĩa của E.Tylor thuộc định nghĩa miêu tả chuyên liệt kê các thành tố của văn hóa như tri thức, tín ngưỡng v.v… Đối với định nghĩa nêu đặc trưng, ông đưa ra ba khuynh hướng lớn của văn hóa: (1) xem văn hóa là những sản phẩm, (2) xem văn hóa như những quá trình, (3) xem văn hóa như những quan hệ, cấu trúc giữa các giá trị, giữa con người với nhau và với các sự vật sự việc khác. Theo ông, trong tất cả các định nghĩa về văn hóa, con người được nhìn nhận có mối liên hệ mật thiết với văn hóa và văn hóa được xem là tất cả những gì do con người sáng tạo ra, con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa vừa là sản phẩm của văn hóa. Ngoài ra, tự nhiên cũng có mối quan hệ quan trọng không kém đối với văn hóa. Mối quan hệ bộ ba này có thể được xét theo mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và là sản phẩm gián tiếp của tự nhiên và mọi cái do con người sáng tạo ra, có giá trị đều được xem là văn hóa.
Đúc kết từ các định nghĩa văn hóa trước đây, theo Trần Ngọc Thêm (2014): Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (tr. 12 Khác với cách phân chia cấu trúc văn hóa của các học giả đi trước thành hai thành phần gồm văn hóa vật chất – văn hóa tinh thần/ văn hóa vật thể – văn hóa phi vật thể hoặc ba thành phần gồm kinh tế – xã hội – tri thức/ vật chất – tinh thần – xã hội v.v…, ông đã đề xuất mô hình cấu trúc văn hóa phân loại theo hoạt động. Cấu trúc này có các tiểu thành tố phân loại theo đối tượng của hoạt động, cụ thể là: văn hóa nhận thức (vũ trụ, con người), văn hóa tổ chức (đời sống tập thể, đời sống cá nhân), văn hóa ứng xử với môi trường (tự nhiên, môi trường xã hội). Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm nêu rõ bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử.
Bốn đặc trưng này giúp xem xét đối tượng nghiên cứu là văn hóa hay không phải là văn hóa dựa trên hai bình diện: yếu tố và quan hệ. Xét trên bình diện yếu tố, văn hóa được phân biệt với tự nhiên nhờ tính nhân sinh và phân biệt được với văn minh nhờ tính lịch sử. Còn xét trên bình diện quan hệ, văn hóa được phân biệt với tập hợp giá trị nhờ tính hệ thống và phân biệt với phản văn hóa nhờ tính giá trị. Đặc biệt, ông đã đưa ra hệ tọa độ K-C-T để xác định văn hóa, trong đó K = Không gian văn hóa (môi trường tự nhiên và xã hội), C = Chủ thể văn hóa (con người), T = Thời gian văn hóa (quá trình hoạt động) (tr.
Bốn chức năng của văn hóa do Trần Ngọc Thêm đưa ra bao gồm chức năng tổ chức (do có tính hệ thống), chức năng điều chỉnh (tính giá trị đem lại niềm vui cho hạnh phúc cho con người), chức năng giao tiếp (có cơ sở là tính nhân sinh), chức năng giáo dục (được tích lũy và di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, giúp phân biệt con người và động vật). Tuy còn có các quan điểm khác về chức năng của văn hóa như chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí, v.v… đều có thể quy chúng về bốn chức năng chính như trên (tr. Tóm lại, trong các định nghĩa về văn hóa, định nghĩa về văn hóa của Trần Ngọc Thêm được sử dụng trong quá trình phân tích đề tài vì định nghĩa về văn hóa từ khái niệm, cách phân chia cấu trúc cho đến đặc trưng và chức năng của văn hóa của ông có hệ thống, logic, nội dung liên kết, rõ ràng, chi tiết, đầy đủ các thành tố và phù hợp với hướng nghiên cứu đề tài. VHƯX Nghiên cứu về VHƯX tại Việt Nam, có các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Trần Ngọc Thêm (1999, 2001, 2014), Nguyễn Thanh Tuấn (2008), Đỗ Long (2008).
13 Phân tích nội dung các công trình liên quan đến VHƯX của các học giả Việt Nam, Nguyễn Thanh Tuấn (2008) đưa ra nhận xét: Cho đến nay ở Việt Nam, nhìn chung quan niệm VHƯX đã được gián tiếp, trực tiếp làm rõ gồm: thái độ, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn nhằm tận dụng, ứng phó và thể hiện tình người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với bản thân. Thái độ, cách thức quan hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn đều bị chi phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội (tr. VHƯX theo Đỗ Long (2008) là: Một trong những dạng thức của đời sống văn hóa, là hệ thống thái độ và hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp lý và đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng, của xã hội (tr. Nội hàm của VHƯX được Trần Ngọc Thêm xác định gồm có hai phần: VHƯX với môi trường tự nhiên và VHƯX với môi trường xã hội (tr.
Trong cả hai môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, con người sống có cách thức ứng xử phù hợp như tận dụng và ứng phó. Trong môi trường tự nhiên, con người tận dụng môi trường tự nhiên là ăn và ứng phó với môi trường tự nhiên là mặc, ở và đi lại. Trong môi trường xã hội, người Việt tiếp thu từ văn hóa Ấn Độ là văn hóa Chăm, từ văn hóa Trung Hoa là Nho giáo và Đạo giáo, từ văn hóa phương Tây là Kitô giáo. Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa này, người Việt trên tinh thần bao dung, hiếu hòa cùng với tính tổng hợp và linh hoạt chi phối một cách nhất quán trong cách ứng phó với môi trường xã hội trong lĩnh vực quân sự, ngoại giao.
Như vậy, thông qua các quan niệm về VHƯX của các học giả nêu trên, VHƯX được xem là cách ứng xử có văn hóa của chủ thể, thực hiện bằng hành động hay hành vi, thái độ tương tác với các đối tượng khác trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Xung đột văn hóa Trong quá trình tiếp xúc và làm việc tại các DNHQ, người lao động Việt Nam và cấp trên / đồng nghiệp người Hàn không tránh khỏi va chạm, xung đột. Do đó, khái niệm liên quan đến tiếp xúc văn hóa như XĐVH được tìm hiểu để từ đó có cơ sở phân tích VHƯX của nhân viên người Việt trong DNHQ. Khái niệm Mâu thuẫn luôn tồn tại trong quá trình hoạt động và làm việc.
Mâu thuẫn ở dạng đơn giản thì sẽ chỉ là những khác biệt chưa được giải quyết, còn ở dạng nặng thì mâu thuẫn có thể biến thành xung đột và khi xung đột hình thành thì việc giải quyết xung đột ấy không đơn giản, phụ thuộc vào cá nhân có kỹ năng giao tiếp nhiều hay ít. Khi xung đột xảy ra thì cả hai đối tượng giao tiếp đều có cảm xúc âm tính: bực bội, khó chịu, không kiểm soát bản thân… và kết quả là cả đôi bên đều bị thương tổn về các mặt thể chất, tinh thần, mối quan hệ, công việc và tệ nhất là sự chia rẽ hay trả thù xuất hiện (Huỳnh Văn Sơn, 2017, tr.