Mở đầu và Danh mục tài liệu tham khdo, sách được chia làm hai phần chính: Văn hoá binh doanh và Triết lý kinh doanh, mỗi phần gồm có ba bài - ba chương. Vì trong chương trình đào tạo của hầu hết các trưững kinh tế, kinh doanh hiện nay không có môn học od sd van hod Việt Nam, cho nên, để giúp cho bạn đọc có kiến thức cơ bản liên quan tới môn học mới, trong phần thứ nhất của cuốn sách này, chúng tôi đã kế thừa nhiều nội dung của hai cuốn giáo trình cơ sở uăn hoá Việt Nam đã xuất bản, một cuốn do G§. Trần Quốc Vượng làm chủ biên và cuốn kia do PGS, TS. Trần Ngọc Thêm biên soạn (xem Danh mục tài liệu tham khảo).
Triết lý kính doanh là một bộ phận của văn hoá kinh doanh, song do sự khác 15 biệt của nó so với các bộ phận khác trong hệ thống và do tâm quan trọng đặc biệt của nó đối với thực tiễn kinh doanh hiện nay nên đã được tách ra để nghiên cứu sâu hơn, trong phần thứ hai của cuốn sách. Ngoài phần Cầu hỏi ôn tập được in ở cuốn sách, lần xuất bản này chúng tôi còn bổ sung các cđu hỏi thảo luận sau mỗi một tình huống có vấn đề cần được nghiên cứu, cần thảo luận - xêmina theo các Bài thơm: khỏo uà đọc thêm ở phần cuối mỗi chương. Thực tế giảng dạy của chúng tôi cho thấy những tình huống - vấn đề này thường gây nên sự hứng thú tìm hiểu và trình bày ý kiến riêng của người đọc, nếu được giáo viên hướng dẫn đúng thì việc học môn Văn hoá binh doanh uà triết lý bình doanh sẽ trở nên hấp dẫn và đạt hiệu quả cao hơn. Bước đầu biên soạn giáo trình cho một môn học mới mẻ, trong khi năng lực và thời gian có hạn, nên cuốn sách sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Tác giả cuốn sách này rất mong nhận được sự trao đổi, đóng góp ý kiến và phê bình của bạn dọc để sửa chữa, bổ sung cho được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Trường Đại học Thương mại, đặc biệt là các đồng nghiệp tại Bộ môn Triết học - Tâm lý xã hội của Trường Đại học Thương mại, PGS. Vũ Ngọc Pha - người phần biện chính,. đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho sự ra đời của cuốn giáo trình này.
Hà Nội, tháng 7 năm 2001 ĐỒ MINH CƯƠNG 16 PHAN THU NHAT VAN HOA KINH DOANH CHUONG I VAN HOA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI 1- VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ HỌC 1. Khái niệm văn hoá Văn hoá là một khái niệm có ngoại điên rất rộng lớn bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Bởi vậy, cho đến nay, có đến hàng trăm (có người cho rằng khoảng một nghìn) định nghĩa khác nhau về văn hoá. Trước khi đi đến một định nghĩa tổng quát về bản chất của văn hoá đủ làm cơ sở lý luận và định hướng cách tiếp cận đúng về vấn đề văn hoá kinh doanh, chúng ta cần tìm hiểu những khía cạnh và đối tượng chính 2vHKrhœanh 17 của khái niệm văn hoá.
Theo nghĩa của từ nguyên (nghĩa gốc của từ) Văn hoá (culture -tiếng Anh, Pháp.) đều xuất xứ từ chữ La tinh Cultura cé nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự uưn trồng. Sau đó từ cultura được mỗ rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của cori người. Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ uốn hoá bao gồm uăn là về :đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của người cầm quyển. Chữ hođ trong văn hoá là việc đem cới oðn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn, đời sống.
Văn hoá chính là nhân hoá hay nhân uăn hoá. Đường lối uăn trị hay đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hoá (băn hoá là uăn trị giáo hoá, là giáo dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự cưỡng bức). Văn hoá, trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây, đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, uun trồng nhân cách con người (cá nhân, cộng đồng, xã hội loài người); cũng có nghĩa là lam cho con người va cuộc sống trở nên tốt đẹp. Chủ tịch Hỗ Chí Minh nói: "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người" là theo cái ngữ nghĩa căn bản này của văn hoá.
Căn cứ uào phạm vi xem xét, nghiên cứu - cũng là phạm vi của đối tượng mà khái niệm văn hoá được dùng để phản ánh - người ta định nghĩa văn hoá theo ba cấp độ chính: Theo nghĩa rộng nhất, văn hoá là toàn bộ những hoạt động vật chất và tỉnh thần mà loài người đã tạo ra trong lịch sử của mình trong mối quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội. "Vì lẽ sinh tổn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Van hod là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cyng vdi biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhụ cầu đời sống, va đòi hỏi của sự sinh tổn"! Như vậy, Chủ tịch Hê Chí Minh đã dùng khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng nhất của nó!, Theo nghĩa (phạm 0Ù rộng, văn hoá là những hoạt động và giá trị tính thần của loài người? Trong phạm vi này, văn hoá khoa học và văn hoá nghệ thuật có thể coi là 1.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. Có thể gọi khác đi về cách phân loại trên: nghĩa rộng, nghĩa vừa, và nghĩa hẹp. Ngoài ra còn có cách nhìn khác về đối tượng của văn boá, như theo "góc rộng" và "góc hẹp",. 19 hai phan hệ chính của: một hệ thống văn hoá.
Theo nghĩa (phạm 0Q hẹp, văn hoã được coi như một ngành - ngành văn hoá nghệ thuật - để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác của nền kinh tế quốc dân. Cách hiểu văn hoá trong phạm vi hẹp thường kèm theo một quan điểm, cách: đối xử sai lệch về văn hoá: Coi văn hoá là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống được là nhờ trợ cấp của nhà nước và "ăn theo" nền kinh tế. Thực ra thì văn hoá nghệ thuật (văn chương, nhạc, hoạ, sân “khấu, điện ảnh, truyền hình.) là một bộ phận quan trọng của nền văn hoá. Văn hoá có trong kinh tế và nó có thể trổ thành:một nguồn động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Thậm chí, người ta còn hiểu văn hoá với một nghĩa rất hẹp là trình độ học vấn hoặc một loại hình nghệ thuật. Đó là một cách hiểu sai. Trong ba nghĩa kể trên của từ văn hoá thì hiện nay người ta thường dùng tió với nghĩa rộng nhất. Loại trừ những trường hợp đặc biệt và người nghiên cứu đã tự giới hạn, quy ước, chúng ta nên hiểu khái niệm uăn hoá uới nghĩa rộng nhất của nó.
Đô chính là đối tượng nghiên cứu của môn văn hoá học (xem ở muc 1. Theo hình thức biểu hiện thì văn hoá được phân loại thành văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần hay nói cho đúng hơn, gầm oăn. hoá vat thé (tangible) va vdn hod phi vat thé (intangible). Các đền chùa, cảnh quan, đi tích lịch sử cũng như các sản phẩm văn hoá truyền thống như tranh Đông Hồ, gốm 20 Bat Trang,.
déu thudc loai hinh van hod vat thé. Cac phong tục, tập quán, làn điệu dân ca hay bằng giá trị, chuẩn mực đạo đức của một dân tộc. là thuộc văn hoá phi vật thể. Tuy vậy, sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn hoá thường có cả yếu tố "vật thể" và “phi vat thé" của nó.
Xin lấy một ví dụ về phố cổ Hà Nội. Ấn sâu sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những ngôi nhà, với tường, cửa, mái ngói. là cái 0ô hình của kiểu dáng kiến trúc và quy hoạch đặc thù, cái hồn qua vẻ cổ kính của thời gian và giá trị lịch sử. Gọi phố cổ Hà Nội là sản phẩm văn hoá vật thể mới chỉ dựa trên tính trực quan, cảm tính được mà thôi!.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống - cấu trúc thì văn hoá là một hệ thống gồm nhiều phân hệ - thành tố thống nhất với nhau. Từ góc độ này có thể phát hiện ra văn hoá với hai cấp độ - quy mô chính: Nền văn hoá dân tộc và tiểu văn hoá của các tổ chức xã hội vi mô. Cấu trúc của một hệ thống uăn hoá (nên uăn hoá) gồm 4 thành tế (tiểu hệ) cơ bản: 1. oăn hoá nhận thức; 9.
uăn hoá tổ chức cộng đồng; 3. ăn hoá ứng xử uới môi trường 1. Trần Quốc Vượng có cách gọi khác về hai loại di sản văn hoá: uăn hoá hữu thể (tangible) va uăn hoá uô hình (ntangible). "Cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lỗng vào nhau, như thân xác và tâm trí con người".
(Trần Quốc Vượng: Cd sở uăn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr. 21 tự nhiên uà 4. uăn hoá ứng xử uới môi trường xã hội!.1 dưới đây diễn tả cấu trúc của hệ thống văn hoá trong quan hệ với loại hình văn hoá.
VAN HOA TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG Hình 1. Cấu trúc của hệ thống oăn hoá? Cũng xem xét nền văn hoá dân tộc như một hệ thống, G.S Tran Quốc Vượng và các cộng sự của ông đã đưa ra một mô hình khác về thành tế văn hoá. Đó là một hệ thống các loại hình văn hoá khác nhau như ngôn ngữ, tín 1,2. Trần Ngọc Thêm: Cơ sở uăn hoá Việt Nam, Nxb.
Giáo đục, Hà Nội, 1997, tr. 22 ngưỡng, phong tục - lễ hội,.9 là sơ đồ của các thành tế này.2: Sơ đồ các thành tố văn hoá!. Ở phạm vi một nền văn hoá vi mô, tức là "tiểu văn hoá" của một tổ chức thuộc về nền văn hoá dân tộc, cấu trúc của nó có những thành tổ ố khác.