Phần mở đầu. + Phần nội dung. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng về văn hóa ẩm thực thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị + Phần kết luận. 9 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC 1.
Tổng quan về văn hóa 1. Khái niệm về văn hóa Tuy đƣợc dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng suy cho cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: Theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hoá đƣợc giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa đƣợc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…).
Giới hạn theo không gian, văn hoá đƣợc dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)… Theo nghĩa rộng, văn hoá thƣờng đƣợc xem là bao gồm tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Các đặc trƣng của văn hóa Văn hoá là tính hệ thống. Đặc trƣng này giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tƣợng, sự kiện thuộc một nền văn hoá, phát hiện ra các đặc trƣng, những quy luật hình thành và phát triển của nó. Văn hoá là tính giá trị. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị.
Nó là thƣớc đo mức độ nhân bản của xã hội và con ngƣời. Các giá trị văn hoá, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần; theo ý nghĩa có thể chia 10 thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Tính giá trị của văn hoá ẩm thực bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất mà ăn uống đem lại là cách cung cấp năng lƣợng cho cơ thể mà chúng ta đã làm hao tổn do lao động.
Khi đời sống ngƣời dân còn thấp thì việc “ăn lấy no” đƣợc mọi ngƣời quan tâm hàng đầu, chƣa nghĩ đến nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp” vì điều kiện thực tế chƣa cho phép. Nhƣng khi xã hội ngày càng phát triển, con ngƣời không chỉ mong đƣợc “ăn no mặc ấm” mà chuyển sang “ăn ngon mặc đẹp”. Ăn uống giờ đây không chỉ mang giá trị vật chất mà còn mang giá trị tinh thần. Món ăn không những phải đủ chất mà còn phải hợp khẩu vị, phải nhìn ngon mắt nữa.
Văn hoá là tính nhân sinh. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá nhƣ một hiện tƣợng xã hội với các giá trị tự nhiên. Do mang tính nhân sinh, văn hoá trở thành sợi dây nối liền con ngƣời với con ngƣời, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau. Tính nhân sinh của văn hoá ẩm thực đƣợc thể hiện ở tình đoàn kết dân tộc, sự đùm bọc nhau trong cơn hoạn nạn, ở việc “nhƣờng cơm sẻ áo”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”.
Văn hoá là tính lịch sử: Văn hoá bao giờ cũng đƣợc hình thành trong một quá trình và tích luỹ qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo nên văn hoá một bề dày, một chiều sâu. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thốngvăn hoá. Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ giáo dục.
Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tƣ của văn hoá. Nhờ nó mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con ngƣời. Từ chức năng giáo dục,văn hoá có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử. Nó là một thứ gien xã hộidi truyền phẩm chất con ngƣời lại cho các thế hệ maisau.
Tổng quan về văn hóa ẩm thực 2. Khái niệm văn hóa ẩm thực Theo nghĩa rộng, “văn hóa ẩm thực” là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trƣng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức tình cảm, hắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia. Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách tứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy.Trên bình diện văn hóa tinh thần, văn hóa ẩm thực là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến thức ăn, ý nghĩa, biểu tƣợng tâm linh trong món ăn đó “qua ăn uống mới thấy con ngƣời đối đãi với nhau nhƣ thế nào?” Theo nghĩa hẹp, “văn hóa ẩm thực” là những tập quán và khẩu vị của con ngƣời, những ứng xử của con ngƣời trong ăn uống; những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống, những phƣơng thức chế biến bày biện trong ăn uống và cách thƣởng thức món ăn. Hiểu và sử dụng đúng các món ăn sao cho có lợi cho sức khỏe nhất của gia đình và bản thân, cũng nhƣ thẩm mỹ nhất luôn là mục tiêu hƣớng tới của mỗi con ngƣời.
Những đặc trƣng văn hoá ẩm thực Việt Nam Theo ý kiến của tiến sĩ sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, cho rằng ẩm thực Việt Nam có 9 đặc trƣng sau: Tính hoà đồng đa dạng Ngƣời Việt dễ dàng tiếp thu văn hoá ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miền khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây cũng là điểm nổi bật của ẩm thực nƣớc ta từ Bắc chí Nam. Tính ít mỡ Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ, không dùng nhiều thịt nhƣ các nƣớc phƣơng Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ nhƣ ngƣời Hoa. 12 Tính đậm đà hƣơng vị Khi chế biến thức ăn ngƣời Việt Nam thƣờng dùng nƣớc mắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác nhƣ muối, bột ngọt, hạt nêm.nên món ăn rất đậm đà.
Mỗi món khác nhau đều có nƣớc chấm tƣơng ứng phù hợp với hƣơngvị. Tính tổng hoà nhiều chất, nhiều vị Các món ăn Việt Nam thƣờng bao gồm nhiều loại thực phẩm nhƣ thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều vị nhƣ chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo. Tính ngon và lành Cụm từ ngon lành đã gói ghém đƣợc tinh thần ăn của ngƣời Việt.
Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trƣng riêng. Những thực phẩm mát nhƣ thịt vịt, ốc thƣờng chế biến kèm với các gia vị ấm nóng nhƣ gừng, rau răm. Đó là cách cân bằng âm dƣơng rất thú vị, chỉ có ngƣời Việt Nam mới có. Tính dung đũa Gắp là một nghệ thuật, gắp sao cho khéo, cho chặt, đừng để rơi thức ăn.
Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay nƣớng, ngƣời Việt cũng ít dùng nĩa để xiên thức ăn nhƣ ngƣời phƣơng Tây. Tính cộng đồng hay tính tập thể Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong bữa cơm cũng có bát nƣớc mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ từ bát mắm chung ấy. Tính hiếu khách Trƣớc mỗi bữa ăn ngƣời Việt thƣờng có thói quen mời. Lời mời thể hiện sự giao thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng ngƣời khác.
Tính dọn thành mâm Ngƣời Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, mọi ngƣời cùng ngồi quây tròn bên mâm cơm, cùng gắp những món ăn trong mâm, dọn nhiều món ăn trong 13 một bữa lên cùng một lúc chứ không nhƣ phƣơng Tây ăn món nào mới mang món đó ra. Giá trị văn hoá trong ẩm thực của ngƣời Việt Nói về ẩm thực là nói về một vấn đề văn hoá. Nó lớn hơn nhiều so với hoạt động thoả mãn một nhu cầu mang tính bản năng: cung cấp chất dinh dƣỡng để nuôi sống con ngƣời. Nghệ thuật ẩm thực của ngƣời Việt mang giá trị văn hoá sâu sắc và đƣợc biểu hiện ở các khía cạnhsau: Ẩm thực trong văn học Văn học Việt Nam từ khi chƣa có chữ viết, chỉ đƣợc truyền miệng trong dân gian đến khi xuất hiện những tác phẩm có giá trị xuyên thời đại, cũng nhiều lần đề cập tới lĩnh vực ăn uống.
Từ những truyền thuyết thuở vua Hùng dựng nƣớc nhƣ Bánh Chƣng Bánh Dày, Mai An Tiêm… cho đến những trang viết tinh tế, sành sỏi của nhà văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng, Băng Sơn… chuyện ăn uống đã trở thành một nghệ thuật tinh xảo, đa dạng. Có lẽ “Miếng ăn” là một trong những đề tài thƣờng xuyên đƣợc đề cập tới trong dân gian. Khó có thể liệt kê hết ra đƣợc những câu chuyện cổ tích, những truyền thuyết có liên quan đến đề tài này. Những “Niêu cơm Thạch Sanh”,“Những gánh cơm, gánh cà dân làng nuôi Thánh Gióng”, ngƣời dân Việt Nam đã gửi gắm vào những “Miếng ăn” cả những thiên anh hùng ca của cuộc chiến đấu gìn giữ bảo vệ Tổ quốc.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Liệu cơm gắp mắm” với ý nghĩa tùy theo tình hình khả năng thực mà làm, xử lý công việc nào đó cho đúng mức và thích hợp với hoàn cảnh cụ thể. Một bữa cơm có nhiều món ăn ngonắtsẽ đƣợc khen, nhƣng cách ứng xử giữa mọi ngƣời với nhau nhƣ thế nào lại là điều quan trọng hơn và luôn đƣợc đề cao: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Ca dao Việt Nam thƣờng ghép những món ăn nổi tiếng với những ngƣời sành ăn, biết thƣởng thức để không uổng công ngƣời đầu bếp cũng nhƣ hàm ý ẩn dụ sâu xa những sự vật, hiện tƣợng khi đứng đơn lẻ không có giá trị cao nhƣng nếu khéo kết hợp có thể tôn vị thế của nhau lên và có những giá trị bất ngờ: 14 “Khế xanh nấu với ốc nhồi Tuy nước nó xám nhưng mùi nó ngon”. Ca dao còn mƣợn hình ảnh chén cơm để cƣời chê đủ thứ thói hƣ tật xấu của ngƣời đời.