Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác dân vận 1. Hồ Chí Minh bàn về công tác dân vận Công tác dân vận có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong mọi thời kỳ cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa nó lại càng quan trọng vì cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, triệt để, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân, các giới đồng bào.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay, công tác dân vận nhằm góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra sức mạnh nội lực, kết hợp với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh truyền thống với sức mạnh của thời đại để thực hiện mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân vận cho nên trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Tư tưởng về công tác dân vận - công tác vận động quần chúng là một hệ thống những quan điểm, phương thức dân vận được thấm nhuần trong cả cuộc đời và trong các tác phẩm của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định đây là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận thể hiện những nội dung cơ bản như sau: 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về công tác dân vận Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, “dân là toàn dân, toàn dân tộc Việt Nam bao gồm mọi người thuộc các dân tộc đa số và thiểu số, sống ở trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước hay nước ngoài, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo” [38, tr. Người khẳng định dân không phải là một khối đồng nhất, mà là một cộng đồng gồm nhiều dân tộc, giai cấp, tầng lớp, có sự thống nhất và khác biệt về lợi ích, có thái độ và vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh đã nhận định với đặc thù là một nước nông nghiệp, thuộc địa, nói đến dân chủ yếu là nói tới nhân dân lao động gồm nông dân, công nhân,… là những lực lượng trực tiếp sản xuất, có tiềm lực tinh thần và vật chất to lớn nhất.
Về đại thể “dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta” [29,tr 285]. Dân là tập hợp của ba hạng người: “hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn” [29, tr 289]. Quan niệm về “dân” của Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới khía cạnh tinh thần, đây là một điểm khác biệt so với một số chính trị gia phương Tây khác.
Như vậy, khái niệm “dân” của Hồ Chí Minh có sự tiếp nối tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan điểm giai cấp khi tập hợp lực lượng cách mạng, lại rất phù hợp và hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam - nơi giai cấp công nhân còn ít ỏi, nông dân chiếm đa số dân cư, tầng lớp trí thức có tinh thần yêu nước cao. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh khái niệm dân, nhân dân, đồng bào đều là đồng nghĩa, đều chỉ con dân nước Việt, tùy hoàn cảnh khác nhau mà sử dụng khái niệm nào cho thích hợp. Người dân Việt Nam dù thuộc tộc người nào, hoàn cảnh xã hội nào, chính kiến nào đều là người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam, đó là cái chung nằm trong cái riêng của mỗi cá thể. Không có người dân nào không gắn liền với dân tộc, với đất nước.
Cuộc sống và vận mệnh của mỗi người dân gắn liền với vận mệnh hữu cơ của cả dân tộc. Chính vì quan điểm biện chứng ấy mà Hồ Chí Minh đã phát hiện và rút ra kết luận hết sức quan trọng: Hễ là người Việt Nam thì dù trong bất cứ hoàn cảnh xã hội và điều kiện lịch sử nào cũng đều có tinh thần dân tộc, đều có lòng yêu nước và tinh thần ấy bao trùm lên hết thảy, vượt lên mọi tín 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều và trở thành lẽ sống của mỗi con người. Cái vĩ đại trong triết lý của Hồ Chí Minh về Dân đã vượt lên mọi sự hẹp hòi, phân biệt, đố kỵ thường xảy ra trong khi thực tế ảnh hưởng của ý thức hệ truyền thống đã đưa đến sự phân hóa và đấu tranh giai cấp, phân tầng xã hội vô cùng quyết liệt. Theo Hồ Chí Minh, Dân là một khái niệm rất cụ thể, rõ ràng.
Dân không phải là trìu tượng, chung chung, không xác định mà chính là những con người cụ thể bằng xương, bằng thịt, sống làm việc quanh ta. Hồ Chí Minh nhìn thấy từng con người trong cộng đồng, hiểu rất rõ từng con người, cảm thông trân trọng đặc tính, hoàn cảnh xã hội, tâm linh tôn giáo, bản sắc dân tộc.Cái triết lý hiểu dân qua từng con người cụ thể của Hồ Chí Minh thật giản dị, rõ ràng minh bạch nhưng lại đạt tới trình độ siêu việt, vượt lên mọi người. Trong triết lý về Dân của Hồ Chí Minh ta còn tìm thấy một nhân cách luận Hồ Chí Minh đó là rất coi trọng cá nhân để coi trọng cộng đồng vì mỗi cá nhân là thành phần chủ động, tích cực của cộng đồng, còn là cái nôi của cộng đồng, là môi trường nuôi dưỡng cái tích cực của mỗi cá nhân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh khái niệm Dân luôn gắn liền với vị trí, vai trò của Dân trong xã hội.
Nếu Dân gắn với dân tộc, với đất nước thì đồng thời Người cũng khẳng định vị trí làm chủ xã hội, làm chủ đất nước của Dân. Như vậy, Dân – Dân tộc – Dân chủ là một chùm khái niệm liên hệ mật thiết với nhau. Chỉ có khẳng định được chỗ đứng và tư cách của người Dân với xã hội, với đất nước thì mới làm rõ, đầy đủ khái niệm và quan niệm về Dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Dân trong xã hội là rõ ràng, dứt khoát: Dân là chủ đất nước.
Vì là người chủ của đất nước cho nên quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đều là của Dân, không có sự chia sẻ, không được phép xâm phạm và không thể bị thoái thác. Người khẳng định “Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.
Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng cần phải tiến hành Dân vận để “vận động tất cả các lực lượng của mỗi một người dân không để sót một 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những việc nên làm, những nhiệm vụ được giao”. Dân vận theo quan niệm của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa rất rõ ràng, cụ thể về công tác dân vận của Đảng. Định nghĩa trên của Hồ Chí Minh gồm hai vấn đề chính của công tác dân vận, phải hiểu sâu sắc từng vấn đề mới nhận thức đầy đủ, thấu đáo quan điểm dân vận trong tư tưởng của Người.
Trước hết, theo Hồ Chí Minh dân vận là “vận động tất cả các lực lượng của mỗi người dân, không để sót lại một người dân nào”. Đây chính là một công việc không dễ dàng, không đơn giản chút nào, nhưng lại là vấn đề cốt lõi trong công tác dân vận. Nếu không vận động, không tập hợp được hết thảy mọi người dân thuộc mọi tầng lớp xã hội tham gia cách mạng, thực chất là chúng ta chưa làm được và chưa làm tốt công tác dân vận theo tư tưởng của Hồ Chí Minh. Bởi tư tưởng nhất quan xuyên suốt của Người là tập trung sức xây dựng lực lượng cho cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc – một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Người từng khẳng định “lực lượng của dân rất to, việc dân rất quan trọng”. Thứ hai, trong định nghĩa về dân vận chúng ta còn thấy công tác dân vận bao giờ cũng gắn với một nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng. Kết quả của công tác dân vận là tạo được phong trào hành động cách mạng của quần chúng sôi nổi, rộng khắp nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể vững mạnh. Do đó, trong công tác dân vận vai trò của các tổ chức chính trị xã hội không chỉ có động viên, giáo dục, khích lệ mà quan trọng hơn là phải đáp ứng cho được lợi ích thiết thực của đoàn viên, hội viên, những gì “ích nước lợi nhà” đều là những công việc mà các đoàn thể phải quan tâm và dồn sức chăm lo”.
Như vậy, Công tác dân vận được xem là công việc (hay còn gọi là nhiệm vụ chính trị) của các tổ chức đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội cần phải làm tròn trước Đảng và nhân dân nhằm tuyên truyền, giải thích, động viên làm cho đông đảo nhân dân ủng hộ hoặc tự nguyện làm theo 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những công việc mang lại lợi ích chung. Quan điểm của Hồ Chí Minh trong công tác dân vận là “không để sót một người dân nào” vì mỗi người dân, mỗi tầng lớp xã hội đều giữ một vai trò quan trọng trong công cuộc cách mạng. Công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay là công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.