CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 1. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VỀ CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI 1. Quan điểm về con người và giải phóng con người trong triết học thời kỳ Cổ - Trung đại Có thể nói, vấn đề con người và giải phóng con người được quan tâm nhiều nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trước khi triết học Mác ra đời đã có nhiều nhà triết học, nhiều trường phái triết học bàn đến vấn đề này.
Mặc dù chưa đưa ra được quan niệm đúng đắn về bản chất con người, về vị trí, vai trò của con người trong lịch sử cũng như chưa gắn kết được quan niệm về con người và giải phóng con người; song các nhà triết học trước Mác cũng đã có nhiều cách lý giải khác nhau về con người và vấn đề giải phóng con người thông qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Trong thời kỳ Cổ đại vấn đề con người và giải phóng con người được nhận thức từ rất sớm. Nghiên cứu triết học phương Đông và phương Tây chúng ta thấy rõ là đã có những quan điểm khác nhau về con người và giải phóng con người trong lịch sử. Khi nghiên cứu vấn đề con người, Triết học phương Đông, điển hình là triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại, mới chỉ dừng lại ở việc đạt đến trình độ thừa nhận con người có phần xác và phần hồn.
Phần lớn các quan điểm đều cho rằng, “phần xác” có thể chết, mất đi, nhưng “phần hồn” vẫn tồn tại. Điển hình là quan điểm của các trường phái chính thống ở Ấn Độ như kinh Vêđa, triết học Phật giáo. Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng về con người của triết học Ấn Độ cổ đại gắn liền với quan niệm tôn giáo. Con Luan van 10 người chỉ được giải phóng trong sự chi phối của các lực lượng thần thánh, siêu nhiên.
Tư tưởng “giải thoát” con người ra khỏi những đau khổ trầm luân của Phật giáo, tuy nhuốm màu sắc tôn giáo, song ít nhiều cũng thể hiện sự quan tâm đối với vấn đề giải phóng con người. Ở giai đoạn này, việc giải phóng con người được luận giải theo hướng duy tâm, chỉ là sự giải thoát về mặt “linh hồn”. Đó là sự giải thoát của linh hồn cá thể khỏi thể xác, trở về với linh hồn tối cao (Kinh Vêda), về thế giới bên kia, hay với cõi Niết bàn của đức Phật. Lấy con người làm trung tâm cho học thuyết triết học của mình, triết học Trung Quốc cổ đại, mà tiêu biểu là các học thuyết triết học của phái Nho gia, Pháp gia, Đạo gia.
đã chú ý đến số phận của con người. Tuy nhiên, hầu hết các trường phái triết học này đều dừng lại ở chỗ coi con người, coi sự phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn. là do “thiên mệnh”, con người không nên và không thể giải thoát, cưỡng lại được “mệnh trời”. Mọi sự giải thoát con người đều nhằm thoát khỏi sự an bài trong hiện thực là vô ích.
Tuy vậy, bên cạnh các quan điểm duy tâm, tôn giáo về vấn đề con người và giải phóng con người, ở Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại còn có một số quan điểm tiến bộ khi nhìn nhận con người một cách duy vật (Phái Lokayata, phái Âm dương – Ngũ hành.), coi tính người do rèn luyện, do giáo dục mà nên. Trong lịch sử triết học phương Tây cổ đại mà tiêu biểu là triết học trước Mác, vấn đề con người, bản chất con người và việc giải phóng, phát triển con người cũng được đặt ra rất sớm. Phần lớn các nhà triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại đều đề cao vai trò của con người. Nổi bật cho quan điểm triết học của thời kỳ này có những đại diện tiêu biểu như, Prôtago đã coi con người là thước đo của mọi vật đang tồn tại và lần đầu tiên, ông đưa ra quan niệm về quyền bình đẳng giữa người với người, khẳng định Thượng đế tạo ra mọi người đều là người tự do, tự nhiên Luan van 11 không ai biến thành nô lệ cả, con người được tự do phát triển về mọi mặt.
Arixtốt cho rằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác, phê phán quan niệm của Platôn coi thể xác chỉ là sự trú ngụ tạm thời của linh hồn bất diệt, Aritốt khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa chúng, mặc dù trong con người linh hồn đóng vai trò chủ đạo. Ông khẳng định “các trạng thái linh hồn đều có cơ sở vật chất” [Trích theo: 57; tr 206]. Ông còn coi con người là một động vật chính trị, một sinh vật xã hội được cố kết trong một cộng đồng người, trong một xã hội nhất định, tuy nhiên, về vấn đề giải phóng con người, mặc dù phê phán chế độ bạo chúa, cho rằng chúng không phù hợp với bản chất con người nhưng ông lại nhiệt tình ủng hộ chế độ quân chủ, coi đó là hình thức tổ chức nhà nước thần thánh để con người tìm thấy sự giải thoát ở trong đó. Tuy có sự hạn chế về mặt lịch sử và giai cấp, song các nhà triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại đã đưa ra một số quan điểm tiến bộ về vấn đề con người và phát triển con người.
Đó là những khởi đầu cho các nhà triết học sau này tiếp tục phát triển. Nhìn chung, trong thời kỳ cổ đại các nhà triết học đều tìm cách lý giải về bản chất con người, quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh để từ đó tìm ra con đường giải phóng con người. Song vấn đề con người và giải phóng con người vẫn chưa thoát khỏi yếu tố tâm linh, chưa thoát ra khỏi tất yếu tự nhiên, vì thế, con người chỉ có thể dựa vào các đấng vô hình để tìm ra sự giải thoát nơi tâm hồn chứ chưa tìm ra được một con đường giải phóng thực sự. Trong thời kỳ trung cổ, dưới sự thống trị khắc nghiệt của nhà thờ Ki tô giáo, các trường phái triết học Tây Âu đều bị thần học chi phối, hầu hết các quan điểm chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, sự tồn tại của chế độ đẳng cấp là sự tồn tại hợp lý do sự quy định của Thượng đế.
Các trào lưu triết học thời kỳ này đều cho rằng, con người là sản phẩm của Thượng đế và Thượng đế có vai trò tối cao đối với đời sống của con người. Tiêu biểu cho triết học Luan van 12 thời kỳ này có các đại biểu như: Ôguýtxtanh với những quan điểm được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Về thành đô của Thượng đế”. Trong đó ông đã tích cực bảo vệ sự bất bình đẳng của xã hội, ông khẳng định, một số người thì được chúa ban cho quyền sung sướng vĩnh viễn, còn một số người khác thì phải khổ vĩnh viễn. Ông khuyên người nghèo chỉ nên yêu cái gì không lấy đi được, nghĩa là không nên yêu của cải mà chỉ yêu Thượng đế.
Cuộc sống trần thế chỉ là tạm thời, con người chỉ là khách bộ hành chốc lát trên trái đất, hạnh phúc ở “thế giới bên kia” mới là vĩnh viễn. Giăngxicốt Ơrrgiennơ đã chứng minh sự tồn tại và vai trò tối cao của Thượng đế. Tư tưởng đó được thể hiện rõ nhất trong phương pháp phân chia giới tự nhiên của ông, trong đó ông cho rằng, thế giới kể cả con người, không tồn tại độc lập mà luôn tồn tại vào Thượng đế. Con người chỉ như một thế giới nhỏ bé đặc biệt, trong đó tái hiện những giai đoạn phát triển căn bản của giới tự nhiên.Bêcơn là một trong những đại biểu triết học thời kỳ này lên tiếng chống lại Giáo hoàng, nhưng không chống lại Tôn giáo nói chung.
Tuy có nhiều tư tưởng tiến bộ về con người nhưng ông vẫn chưa thoát khỏi thời đại của mình, thời đại thống trị của tôn giáo và nhà thờ. Nhìn chung, vấn đề con người và giải phóng con người trong Triết học Tây Âu thời trung cổ tuy đã có những quan điểm tiến bộ nhằm tìm ra cho con người một sự giải thoát khỏi những đau khổ nơi cuộc sống trần tục. Song do ảnh hưởng nặng nề của thế giới quan tôn giáo và trình độ sản xuất thấp, nên ở thời kỳ này con người được coi là một sinh vật thụ động, chỉ biết thờ phụng chúa cầu mong được rửa tội, Con người không thoát ra được khỏi guồng quay chật hẹp của tôn giáo và thần học. Sang thời kỳ Phục Hưng, giá trị văn hóa cổ đại Hy - La được khôi phục trên cơ sở của nền kinh tế mới, các giá trị của con người mà từ lâu bị chế độ phong kiến chà đạp và bị nhà thờ Thiên Chúa giáo Trung cổ làm lu mờ, hoặc Luan van 13 trở nên huyền bí…, đã được phục hưng lại theo tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo.
Theo Hốpxơ, con người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội. Về bản tính tự nhiên thì mọi người khi sinh ra đều như nhau. Ông viết: “Giới tự nhiên đã tạo ra mọi người như nhau về cả thể xác lẫn tinh thần. Nhưng sự khác nhau nhất định giữa thể xác và tinh thần của họ không lớn tới mức để cho bất kỳ kẻ nào dựa trên điều đó để có thể kỳ vọng kiếm lợi được điều gì cho bản thân mình mà người khác lại không thể làm được” [Trích theo 57; tr 149].
Xuất phát từ quan niệm về trạng thái tự nhiên của con người Hốpxơ khẳng định khả năng bẩm sinh của con người càng bình đẳng bao nhiêu, thì người ta càng bất hạnh bấy nhiêu, vì cuộc đấu tranh sinh tồn của mỗi người càng khó khăn và phức tạp. Chính vì thế, sự tồn tại của nhà nước chính là sáng tạo cao nhất của con người để con người được sống yên ổn. Quan niệm này của Hốpxơ là sự thể hiện xu hướng tư sản tiến bộ đấu tranh đòi phá bỏ thần quyền và phân biệt đẳng cấp của chế độ phong kiến, đòi mở rộng dân chủ và tiến bộ xã hội. Một số đại biểu cho thời kỳ này như Lốccơ, Đềcáctơ, Rútxô.đã đấu tranh quyết liệt với những quan niệm tôn giáo thần bí xoay quanh vấn đề con người.
Triết học thời kỳ này đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người, đề cao vai trò thực tiễn của con người, xem con người là thước đo của mọi vật. Các giá trị văn hóa, nghệ thuật được đặc biệt chú trọng. Con người được coi là sản phẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo của Thượng đế; là vũ khí vĩ đại nhất của tạo hóa, có khả năng sáng tạo ra các sự vật mới phục vụ cho cuộc sống của mình.