Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn trong nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xã hội và nhân văn vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn trong nghiên cứu và giải, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

91
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn

Quan điểm duy vật biện chứng là nền tảng lý luận của nghiên cứu này. Theo đó, mâu thuẫn được xem là nguồn gốc và động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong tự nhiên mà còn trong xã hội và tư duy con người. Triết học duy vật của Mác-Lênin nhấn mạnh rằng mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến, và việc nhận thức đúng đắn mâu thuẫn giúp giải quyết các vấn đề xã hội một cách hiệu quả.

1.1. Khái niệm và cấu trúc mâu thuẫn

Mâu thuẫn biện chứng được hiểu là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật, hiện tượng. Cấu trúc mâu thuẫn bao gồm các mặt đối lập và mối quan hệ giữa chúng. Ví dụ, trong xã hội, mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội thể hiện sự tương tác giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

1.2. Phương pháp giải quyết mâu thuẫn

Phương pháp biện chứng đề cao việc phân tích mâu thuẫn một cách toàn diện và khách quan. Giải quyết mâu thuẫn không phải là xóa bỏ một mặt mà là tìm ra sự cân bằng và hài hòa giữa các mặt đối lập. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam, việc áp dụng phương pháp này giúp giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ quá trình phát triển kinh tế và xã hội.

II. Nghiên cứu mối quan hệ cá nhân và xã hội ở Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Sự phát triển kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn mới, đòi hỏi sự nhận thức và giải quyết kịp thời. Văn hóa Việt Nam với truyền thống cộng đồng cũng ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ này.

2.1. Thực trạng mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội

Trong xã hội Việt Nam hiện nay, mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội thể hiện rõ qua sự xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Sự phát triển kinh tế thị trường đã làm gia tăng tính cá nhân, đôi khi đi ngược lại các giá trị truyền thống của xã hội.

2.2. Giải pháp hài hòa mối quan hệ

Để giải quyết mâu thuẫn, cần áp dụng phương pháp biện chứng trong việc phân tích và đề ra các giải pháp cụ thể. Các chính sách xã hội cần chú trọng đến sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và trách nhiệm xã hội, đồng thời phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

III. Ứng dụng lý thuyết mâu thuẫn trong xã hội học

Lý thuyết mâu thuẫn được áp dụng trong xã hội học để phân tích các vấn đề xã hội phức tạp. Trong bối cảnh Việt Nam, lý thuyết này giúp hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa các nhóm xã hội và các yếu tố văn hóa, kinh tế.

3.1. Phân tích xã hội dựa trên mâu thuẫn

Việc phân tích xã hội dựa trên lý thuyết mâu thuẫn giúp nhận diện các vấn đề cốt lõi trong quá trình phát triển. Ví dụ, mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội, giữa nông thôn và thành thị, hay giữa truyền thống và hiện đại đều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.

3.2. Giá trị thực tiễn của lý thuyết

Lý thuyết mâu thuẫn không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Nó giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam, lý thuyết này càng trở nên quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp hiện nay.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn trong nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 QUAN DIEM DUY VAT BIEN CHUNG VE MAU THUAN VA PHUONG PHAP GIAI QUYẾT MAU THUA! 1.1, KHAI NIEM, CAU TRÚC VA PHAN LOAI MAU THUAN BIEN CHUNG TRONG TRIET HQC MAC - LENIN 1. Khái niệm mặt đối lập và mâu thuẫn Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, mà trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc,, cùng với sự khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời, vào giữa thế kỷ XIX, C. Ăngghen đã sáng lập ra triết học duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật. Một trong những công lao to lớn của C.

Ăngghen là hai ông đã khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại, đồng thời cứu phép biện chứng ra khỏi cái vỏ duy tâm thần bí trong triết học Héghen, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới. Nội dung cơ bản của phép biện chứng gồm hai nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản Mâu thuẫn biện chứng là một trong những vấn đề quan trọng của triết học Mác - Lênin nói chung và của phép biện chứng duy vật nói riêng. Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, phổ biến ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Lịch sử xã hội loài người trước Mác đã sớm phát hiện và tìm cách giải quyết mâu thuẫn theo những cách tiếp cận khác nhau. Thuyết Âm — Dương ra đời rất sớm (từ thời thượng cổ - thiên niên ki II, thời Phục Hy) ở Trung Hoa cô đại. Thuyết này đã giải thích khởi nguyên sự. vận hành của vũ trụ từ sự phân đôi cải thống nhất thành hai mặt đối lập Dương và Âm.

Âm và Dương là hai mặt đối lập, đối chọi nhau nhưng thống nhất với nhau trong vạn vật; là động lực của mọi sự vận động, phát triển; là khởi nguyên của mọi sinh thành và biến hóa. Trong đó, người Trung Hoa thời bấy giờ luôn luôn nhắn mạnh: mặt Đương giữ vai trò chủ đạo và vượt trội hơn so với mặt Âm. Những tư tưởng nêu trên là sự đóng góp rất to lớn của thuyết Âm - Duong ở Trung Hoa cổ đại vào lý luận về mâu thuẫn. Tuy vậy, quan điểm về mâu thuẫn ở Trung Hoa cổ đại có những hạn chế nhất định mà về sau phép biện chứng duy vật phải khắc phục.

Đó là, thuyết này mới chỉ thấy sự thống nhất của các mặt đối lập, mà chưa thấy được sự đấu tranh, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau giữa chúng. Bởi vậy, đây không phải là học thuyết về sự phát triển, mà chỉ nhằm duy wri trật tự cân bằng Âm - Dương trong vạn vật. Và do chỗ, chưa thấy được sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nên thuyết Âm - Dương cũng chưa nêu lên được vấn để giải quyết mâu thuẫn - một trong những vấn đẻ rất quan trọng của lý luận về mâu thuẫn. Khác với phương Đông, ở phương Tây cổ đại, việc nghiên cứu về mâu thuẫn bao quát được cả hai hình thức: mâu thuẫn trong hiện thực khách quan và mâu thuẫn trong tư duy.

Các nhà triết học Hy Lạp cỗ đại thời kỳ này như Hêraclit, Arixtôt, Êpiquya, Zênôn, Cantơ. đã đưa ra những phát hiện khá thú vị về sự tồn tại của các mặt, các khuynh hướng đối lập trong tự nhiên và xã hội. Đến với Hêraclít (540 - 480 TCN) - ông tô của phép biện chứng, người đã đưa ra tư tưởng về sự thống nhất, đông nhất của các mặt đối lập. Theo Héraclit, “Cùng ở trong mỗi chúng ta - sống và chết, thức và ngủ, trẻ và gia, bệnh tật và sức khỏe, đói và no, mệt nhọc và nghỉ ngơi, cái cao đẹp và cái thấp hèn.

bản chất của chúng là một” [17, tr. Tư tưởng về sự đồng nhất giữa các mặt đối lập là một phát hiện thú vị của Hêraclit. Sau này, trong lý luận về mâu thuẫn, về quan hệ giữa các mặt đối lập, Mác, Ăngghen và Lênin cũng nêu lên tư tưởng này. Kế thừa quan điểm của Héraclit, C.

Mac cho ring: các mặt đối lập là đồng nhất khi chúng có cùng một bản chất (ví dụ, cực Bắc và cực Nam có cùng bản chất, chúng đều là những đầu cực của trái đất). Đền Lênin, ông bổ sung thêm, các mặt đối lập là đồng nhất không chỉ là hai mặt có cùng một bản chất mà chúng còn có thể chuyển hóa lẫn nhau, và vì đồng nhất nên chúng mới có thể chuyển hóa cho nhau. Cũng giống như triết học của Lão Từ, trong triết học Hêraclit, các mặt đối lập làm tiển đẻ cho nhau, sự xuất hiện của mặt đối lập này quyết định sự xuất hiện của mặt đối lập khác: “Bệnh tật làm cho sức khỏe đáng quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn”; các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau “Cái nóng lạnh đi, cái lạnh nóng lên. Cái ướt khô đi, cái khô ướt lại” [17, tr.

390] Ngoai ra, Héraclit con thấy được sự đầu tranh giữa các mặt đối lập. cho rằng, sự xung đột giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển, của sự biến hóa. Trong lĩnh vực xã hội, ông nhấn mạnh thêm, thông qua “đấu tranh” bản chất của sự vật bộc lộ ra và nhờ đó con người nhận thức đúng sự Vật. Nói về mâu thuẫn, cũng như Lão Tử, Hêraclít mới chỉ chủ yếu thấy được.

sự thống nhất, đồng nhất (gắn bó, chuyển hóa, xâm nhập lẫn nhau). nữa, điểm mới và tiến bộ của Hêraclit là ông đã phần nảo thấy được sự đấu. tranh của các mặt đối lập và vai trò của sự đấu tranh nhưng quan điểm của Hêraclit về vấn đề này chưa nhiều và cần phải có sự phát triển thêm. Trong lich sử triết học Hy Lạp cổ đại, bên cạnh xu hướng đi vào nghiên cứu biện chứng của tự nhiên và xã hội (biện chứng khách quan); còn có một xu hướng khác đi sâu nghiên cứu biện chứng của tư duy - “biện chứng chủ quan” (theo cách nói của Ăngghen), mà tiêu biểu là các nhà triết học như Platôn, Arixtốt.

Thành tựu nỗi bật trong Lôgic học của Arixtốt là việc ông xây dựng nên các quy luật cơ bản của tư duy lôgic, trong đó có quy luật phi mâu thuân. Nội dung cơ bản của quy luật này là: tư duy chứa đựng mâu thuẫn là tư duy không đúng. Từ khi ra đời, quy luật phi mâu thuẫn đã có công lao to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của tư duy lôgie. Nó đảm bảo tính nhất quán của tư duy.

Và vì vậy, ngay từ thời cổ đại, việc sử dụng lập luận về mâu thuẫn để phủ nhận hay nghỉ ngờ tính chân lý đã là một cách làm rất phổ biến Minh chứng tiêu biểu là việc nhà triết học duy vật vô thần nỗi tiếng Hy Lạp cổ đại Êpiquya (341 - 270 TCN) đã dùng lập luận sau đây để bác bỏ về Thượng để. Theo quan niệm tôn giáo, Thượng để là người toàn năng, toàn thiện, giàu lòng nhân ái. Nhưng thực tế thì thế giới đã và đang tồn tại đầy rẫy điều ác. Điều này là hoàn toàn mâu thuẫn.

Nhận thức được mâu thuẫn này, Êpiquya lập luận: Nếu Thượng đế muốn loại bỏ điều ác nhưng ngài không làm được thì ngài không phải là vạn năng; nếu ngài có khả năng làm nhưng, không muốn làm thì ngài không phải là người giàu lòng nhân ái. Còn nếu ngài vừa muốn loại bỏ điều ác vừa hoàn toàn có khả năng làm được thì thử hỏi tại sao điều ác vẫn tồn tại trong thế giới? Trong thế giới tồn tại đầy rẫy điều ác có nghĩa là Thượng đế hoặc không phải là người toàn năng hoặc không phải là giàu lòng nhân ái. Điều này mâu thuẫn với quan niệm về một vị Thượng đế toàn năng, toàn thiện, giảu lòng nhân ái Tuy nhiên, khi người ta quy mọi mâu thuẫn vẻ sai lắm chủ quan thì lại là một sự nhằm lẫn đáng tiếc trong việc vận dụng luật phi mâu thuẫn. Tư duy có mâu thuẫn cũng đồng nghĩa với tư duy sai lầm.

Bên cạnh đó, còn có việc áp. dụng luật phi mâu thuẫn không đúng dẫn đến ngụy biện. Zênôn (490 - 430 TCN), nhà triết học duy vật siêu hình thuộc phái Êlê ở Hy Lạp cô đại khẳng định (hể giới là một khối thống nhất và bắt động. Đề chứng minh cho quan điểm của mình, Zênôn đưa ra hàng loạt “apôria” (nghịch lý).

Theo ông, nếu quan niệm rằng thế giới này là vận động thì sẽ dẫn đến những nghịch lý như “Asin không đuổi kịp con rùa”. Giả sử Asin (nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp) đang chạy đuổi theo một con rùa. Cứ mỗi lần Asin chạy đến chỗ vị trí con rùa thì cùng thời gian đó, con rùa đã bò đi được. một quãng đường ngắn, dù quãng đường mà con rùa bò được có nhỏ bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn luôn ở phía trước Asin.

Như vậy thì Asin sẽ không bao giờ đuổi kịp con rùa. Do đó, vận động là không tổn tại, vận động chẳng. qua chỉ là giác quan bị đánh lừa mà thôi Khác với Zênôn, Cantơ (1724 - 1804) quan niệm bản chất của thé giới là những “vật tự nó”. Ông gọi những câu hỏi về bản chất của thể giới như: Thế giới có giới hạn trong không gian, có khởi đầu trong thời gian hay thế giới là vô hạn, không có khởi đầu? Thể giới được cấu tạo từ những phần tử nhỏ nhất, đơn giản nhất hay trong thế giới không có gì nhỏ nhất, đơn giản nhất? Có tự do hay tat cả đều tất yếu, đều tuân theo quy luật nhân quả? Có cái tắt nhiên tuyệt đối (Thượng đế) hay không có?.

là những antindmi - 1a nhimg điều không thể nhận thức được hay những mâu thuẫn không bao giờ giải quyết được. Các antinômi này, theo Cantơ, không phải là những lỗi lôgie mà ta có thể khắc phục được, mà là những mâu thuẫn không tránh khỏi trong bản thân lý tính của con người. Cách giải quyết mâu thuẫn của các nha tư tưởng trước. Cantơ thường là phân tích đúng sai, rồi triệt tiêu một trong hai mặt đối lập, nhưng Cantơ coi các antinômi là những mâu thuẫn không thẻ nhận thức và không thể giải quyết được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn là một hướng nghiên cứu quan trọng trong khoa học xã hội hiện đại. Luận văn này phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các mặt đối lập trong đời sống xã hội, từ đó làm sáng tỏ bản chất của sự phát triển. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng tác động vốn xã hội đến sự hài lòng cuộc sống cũng phản ánh quy luật mâu thuẫn giữa nhu cầu cá nhân và điều kiện khách quan. Việc hiểu rõ các cặp mâu thuẫn này giúp người đọc vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào thực tiễn nghiên cứu một cách hệ thống và hiệu quả hơn.