phần mở đầu, kết luận còn bao gồm 2 chương với 4 tiết. 1 CHUONG PHUONG PHAP BIEN CHUNG DUY VAT- MOT SỐ VẤN ĐỀ LY LUẬN CHUNG. PHÉP BIEN CHUNG DUY VAT VỚI TÍNH CÁCH LA MỘT HỆ THỐNG.1, Lịch sử hình thành và phát triển của phép biện chứng. Phép hiện chứng ra đời từ thời kỳ cổ đại mà điển hình là phép biện chứng cổ đại Hy Lap.
Theo phép biện chứng ấy, thế giới là một chỉnh thể thống nhất bao gỗm các bộ phận có mỗi liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, Các sự vật, hiện tượng trong thé giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Song phép biện chứng thời cổ đại con mang tinh chất phát, ngây tha, vì nó chỉ mới có thể dựa trên sự quan sất cảm tinh với kinh nghiệm thông thường của con người. Đánh giá quan điểm biện chứng chất phát thời cổ đại, Ph. Angghen cho rằng: “trong quan điểm đó chúng ta thấy một bức tranh về sự ching chit vô tin của những mối quan hệ và những sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển” ¡22,35|.
Phép biện chứng ấy có giới hạn là chưa làm rõ được cái gì đang liên he; cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển. VỀ sau, con người đi sâu hơn về nhận thức thé giới. Không thỏa mãn với cách nhìn chung tổng quát vé thế giới, người ta đã tích thế giới ra từng mặt, từng bộ phận để nghiên cứu, Và sự ra đời của triết học cổ điển Đức đã kế thừa và tiếp tục phát triển phép biện chứng cổ đại. Nếu phép biện chứng trong triết học cổ đại chủ yếu được nghiên cứu trên cơ sử kinh nghiệm hằng ngày, thì phương pháp tư duy hiện chứng trong chủ nghĩa duy tâm Đức đã trả thành một lý luận được xây dung một cách có hệ thông.
Cúc nhà triết học duy tâm Đức đã áp dung một cách có ý thức phép biện chứng vào cúc lĩnh vực khác nhau của hiện thực. Phép biện chứng cổ điển Đức là hình thức cao hơn phép biện chứng cổ đại, bởi vì nó đã thoát khỏi tinh tự phái, ngây thơ. Nhưng nó chưa phải là đỉnh cao của phép hiện chứng, mà chỉ dừng lai ở phép biện chứng duy tâm, Nhà biện chứng kiệt xuất nhất thữi kỳ này là nhà triết học duy tâm vĩ đại người Đức G. Héghen đã trình bay những quy luật co bản của phép biện chứng.
nhưng không phải là những quy luật của các quá trình tự nhiễn và xã hội, mà là những quy luật của tứ duy “thuần túy”, tách rồi khỏi mọi nội dung cẩm tinh, Theo Héghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tổn tại khác nhu của "ý niệm tuyệt đối”, do xự thụ hóa của ý niệm mà thành ”. biện chứng vcủu ¥ niệm quy định tính hiện chứng của các sự vật và hiện tượng” [22,40-41] Phép biện chứng của Héghen là phép hiện chứng duy tâm, vì nó chỉ nói đến sự vận động và phát triển của các ý niệm mã thôi. Mặc dù vậy, Héghen đã có công lao to lđn trong việc trình hày có hệ thống những qui luật của phép biện chứng, đồng thời còn xem nó là một quan điểm nhất định vẻ thé giới, là phương pháp nhân thức. Đánh giá phép biện chứng của Héghen, Mác viết: “Tinh chất thin bi mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Héghen tuyệt nhiên không ngăn cản Héghen trở thành người dau tiên trình bày một cách bao quất và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy.
Ở Héghen, phép biện chứng bị lận ngược đầu xuống đất chỉ cần dựng nó lại là sẽ phat hiện được cái hat nhãn hợp lý của nó ở đăng sau lớp vỏ than bí”[2, 35] Kế thừa có chọn lục những hạt nhân hợp lý nhất của các nhà biện chứng trước đó, Mác và Angghen đã sáng lập ra một hình thức cao nhất của phép biện chứng- phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, nó đã khái quất một cách đúng din những quy luật vận động va phát triển chung nhất của thế giới. Sự thống nhất này không thể tách rời và hơn nữa, ở mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác vừa là duy vật vữa là biện chứng, do vậy phép biện chứng của triết học Mác, không chỉ là lý thuyết, mà trước hết là một quá trình khách quan không phụ thuộc vào ý thức và ý chi con người, quá trình vốn có bên trong của hiện thực vật chất đó là quá trình của sự vận động, biến đổi, phát triển do sự đấu tranh của các mặt đối lập, quá trình chuyển hóa những biến đổi tiệm tiến thành nhảy vot, chất lượng, phủ định và phủ định cái phủ định. Đó là quả trình lich sử phát triển tự nhiên và xã hội, mã từ đó tạo nên sự phát triển của tinh thần, ý thức, tư duy với tính cách là thuộc tinh của vật chất có tổ chức cao được phan ánh trong khoa học, trong nhận thức nói chung,.
Lénin đã gọi phép hiện chứng duy vật là linh hỗn của chủ nghĩa Mic. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là một hước nguặt trong sự phát triển của phép biện chứng. Nội dung của phép hiện chứng duy vat Phép biện chứng duy vật thừa nhận các sự vật và hiện tượng trong thế giới hiện thực không tổn tai một cách cô lập, mà giữa chúng có mối liên hệ rằng bude lẫn nhau, tắc động qua lại với nhau, luôn vận động và phat triển. Do vậy, phép biện chứng duy vật có nội dung hết sức phong phú, nó được tạo thành tử một loạt những phạm trù, những quy luật, những nguyễn lý được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực và có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trong nội dung của phép hiện chứng, bao trùm lên cả là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Đó là hai nguyên lý chung nhất của phép hiện chứng duy vật. Điều đó khẳng định rằng phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ hiển và vẻ sự phát triển, Angghen định nghĩa: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những luật phổ biển của sự vận động và sự nhát triển cla tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy*(22. Với tính cách là học thuyết vẻ mỗi liên hệ phổ biến và về sự phat triển, phép hiện chứng duy vật vach ra những quy luật chung nhất về sự vận động va phát triển của thể giới, No giúp cho chúng ta phản ánh, nhận thức được đúng din những kết cấu, thuộc tính, quy luật của thé giới khách quan.
Các nguyên lý mang tính phổ quát nhất. vì nó là đối tương nghiên cứu của phép biện chứng duy vật, là cơ sở là tiền để để nghiên cứu các vấn để khác. các cập nham trù thực chất chỉ là sự cụ thể hóa của các nguyên lý. Nguyễn lý cử bản dau tiên được thể hiện trong phép biện chứng duy vật là nguyên lý về mdi liên hệ nhổ biển.
Nguyên lý này khẳng định rằng, các sự vật và hiện tượng trên thế giới liên hệ với nhau một cách phổ biến, chúng tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và chuyển hóa cho nhau chứ không có cái gì tốn tại riêng rẽ đơn độc. Cu sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là tính thông nhất vật chất của thế giới. Theo quan điểm này, các sự vật, hiện tượng trên thể giới dù có da dạng, có khác nhau di chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tản tai khác nhau của một thể giới duy nhất là thể giới vật chat. Trong thể giới vat chất đó có vô vàn những mỗi liên hệ và chúng có biểu hiện da dang giữ những vai tro, vị trí khúc nhau trong sự vận động, biến hoa muốn màu muốn vẻ của thé giới.
Lênin chỉ rõ “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quái và nghiên cứu tất cả các mat, tất cả các sự liên hệ và “sự trung gian” của sự vật dé. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn day đủ nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả moi mal sẽ để phòng cho chúng ta khỏi nhạm những sai lắm và sự cứng nhấc” [20,115-116]. Quan điểm duy vật biên chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến, tính đa dang của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, mà cùn nêu rõ tính khách quan của mối liên hệ phổ biến. Đó là những mũi liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất, là cái vn có của các sự vặt, hiện tượng, nó bất nguồn từ tinh thông nhất vật chất của thé giới biểu hiện trong quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trên cơ sử nghiên cứu mỗi liên hệ nhổ biến của các sự vật và hiện tượng, cú thể rút ra phương pháp để xem xét và giải quyết các vấn để trong thực tiễn. Các sự vật và hiện tượng trên thé giới đều có liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, nên khi xem xét phải có nguyên tắc tính toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt sự vật hiện tượng trong mỗi liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác, phải xem tất cả các mặt, các yếu tế, nhải chú ý đúng mức đến hoàn cảnh lịch sư” cụ thể đã làm phát sinh vấn để mà có cách giải quyết thích hợp. Gần lién với nguyên lý về mỗi liên hệ phổ biến là nguyên lý về sự nhát triển. Hai nguyên lý này thống nhất với nhau, vì chính sư liên hệ phổ biến tức sự tác động qua lại giữa cúc sự vặt và hiện tượng tạo ra sự vin động và phát 10) triển của sự vật và hiện luting ñ Theo quan điểm duy vai biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều vận động, biến đổi và chu yến hóa từ dạng này sang dạng khác.
Sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng là võ cùng tận và có những khuynh hướng khác nhau, Nó diễn ra không ngững trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà nguỗn gốc của nó là sự đấu tranh của các mat đối lập trong bản thân sự vật, hiện tượng. Đặc điểm của sự phát triển là có tính chất tiến lên, có tính kế thừa giữa cái cũ và cái mới, có sự lặp lại dường như cái cũ nhưng trên cd sở cao hơn.