Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Dạy học phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh 1. Nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh ở trên thế giới Ngay từ thời cổ đại, ý tưởng dạy học coi trọng người học và trao quyền tự chủ cho người học đã được chú ý và thực hiện với khẩu hiệu dạy học “Mục đích của giáo dục là làm cho con người tự nhận ra chính mình giữa đám đông” [24]. Đi đầu nêu cao và thực hiện ý tưởng này cần phải kể đến phương pháp giảng dạy của Socrate (Hy Lạp, 469-390 TCN), Aristote (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận.
Còn ở Trung Quốc, Khổng Tử (551-487 TCN), người khai sáng Nho giáo và là nhà giáo dục, triết gia lỗi lạc. Một trong những giáo lý sâu sắc nhất của Khổng Tử là việc ông trao quyền cho các môn đồ tự thu lượm những gì đã quan sát được để sử dụng trong học tập chứ không giảng giải trực tiếp cho các môn ðồ. Bước sang đầu thế kỉ XIX xuất hiện nhiều nghiên cứu về NLTH và những nghiên cứu này thường tập trung mô tả quá trình TH, điển hình như là nhà giáo dục Mỹ John Dewey [9], [13] đã cho rằng: TH ở HS là họ chủ động và tích cực hoạt động, học qua cách làm. Đến những năm cuối thế kỷ XX, các nhà giáo dục tập trung nghiên cứu bản chất NLTH.
Theo thống kê của Candy (1987), tác giả đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm TH, đó là: Học tập độc lập, người học tự kiểm soát, TH theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự bắt đầu việc học, tự đặt ra câu hỏi,… Như vậy, TH là một khái niệm được ra đời rất sớm và ngày nay vấn đề này vẫn được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của nó và đặc tính của người TH. Những thành công nghiên cứu bước đầu các tác giả đã xác định được TH không hẳn TH không có hướng dẫn mà có thể là TH có hướng dẫn; TH nên được diễn ra trong các cơ sở giáo dục, vị trí để học thì do người học tự quyết định, các tác giả đã tập trung vào quá trình nhận thức của chủ thể (người học), tìm ra những yếu tố chi phối đến quá trình TH để từ đó đề ra các biện pháp tác động tích cực đến quá trình TH của người học. Nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinh ở Việt Nam Ngay từ thời phong kiến, khi mà nền giáo dục chưa phát triển, TH và TC, phát triển NLTH và TC cho HS ở Việt Nam đã được chú ý và được ghi nhận ở từng cá nhân kiệt xuất. Đến thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục nước ta tuy đã có sự thay đổi và phát triển nhưng vẫn còn rất hạn chế ở nhiều khía cạnh khác nhau.
TH và TC, phát triển NLTH và TC cho HS vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, PPDH truyền thống lâu đời vẫn chỉ là truyền thụ một chiều, người học chỉ cần học thuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung đã được học. Cho đến khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên phát động nghiên cứu và nêu cao tấm gương về TH. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” [8], Người đã viết “Lấy tự học làm cốt ”. Thời kì này, TH đã được xác định như là một nhiệm vụ chính trị, TH không chỉ là định hướng cho con người vượt qua thách thức của đời sống hiện tại, mà còn là chú trọng nâng cao trình độ của bản thân để tự làm chủ và thích ứng với thế giới ngày càng đổi mới.
Vào những năm cuối của thế kỉ XX những nghiên cứu về TH đã được nhiều tác giả giới thiệu trong các công trình tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn. Liên quan đến vấn đề này, cần phải kể đến đóng góp to lớn công của các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành, v. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [30] đã đưa ra một số đặc điểm của người TH đó là: Tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó. Tác giả cũng đã chia TH thành hai cấp độ: TH có hướng dẫn và TH hoàn toàn rồi đưa ra các dấu hiệu để phân biệt hai mức độ TH này.
- TH có hướng dẫn: Tức là có quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh thắc mắc, giải đáp thắc mắc, làm bài, chấm bài nhưng trò phải là người chủ động. - TH hoàn toàn (TH không có hướng dẫn): Tức là không có sự trợ giúp của người thầy, người học tự vượt khó khăn trong học tập bằng cách động não, tự mình 7 làm thử, tự mình quan sát hoặc cũng có thể gặp người khác để trao đổi. Tuy nhiên, sau đó tác giả cũng khuyên là nên học với thầy trước khi TH [31], [32]. Theo tác giả Trần Bá Hoành [13], TH thuộc quá trình cá nhân hóa việc học.
Người TH là người tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. TH là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp. Tác giả đã khẳng định tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học. Tác giả Thái Duy Tuyên [33] khi tìm hiểu bản chất của TH, tác giả liệt kê các hoạt động cần phải có trong quá trình TH như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, rèn luyện kĩ năng, đồng thời tác giả cũng lưu ý đến động cơ, tình cảm của người TH.
Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở khái niệm hành động chứ chưa phân tích cụ thể, mô tả hành động TH diễn ra như thế nào. Ở một tác phẩm khác [34], tác giả đã hướng dẫn GV tăng cường hoạt động TH của HS. “… GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ. Càng lên lớp trên vai trò của người thầy càng giảm dần, cho đến lúc HS hoàn toàn đảm nhận được việc học của mình”, tác giả còn khẳng định “Hoạt động tự học không chỉ cần tổ chức khi học tập ở nhà mà cần coi trọng hoạt động độc lập của HS ngay cả trong giờ lên lớp”.
Tác giả Trịnh Quốc Lập và cộng sự [40] sau nhiều năm nghiên cứu về sự phát triển NLTH đã đi đến kết luận: “NLTH được thể hiện ở phẩm chất của con người (tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình) và hành động cụ thể (độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác)”. Nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội [18] khi nghiên cứu vấn đề TH, các tác giả đã đề cập đến NLTH thông qua việc tập trung rèn luyện kĩ năng, chia kĩ năng TH thành 4 nhóm: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. 8 Tác giả Vũ Trọng Rỹ [26] khi nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng học tập đã chia thành 4 nhóm với tên gọi và tiêu chí có sự khác biệt đó là: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá. Sau đó các tác giả đã liệt kê các dấu hiệu của từng nhóm kĩ năng, bước đầu đưa ra thao tác cụ thể mà người học cần hướng tới để duy trì và phát triển các kĩ năng đó.
Hiện nay khái niệm TH vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Tác giả Đinh Quang Báo và cộng sự [1] đã phân chia NLTH và TC như sơ đồ dưới đây: Năng lực tự học Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực quản lý Năng lực chung Năng lực giao tiếp Năng Năng lực hợp tác lực Năng lực ứng dụng CNTT & TT Năng lực chuyên biệt Năng lực cá thể Hình 1. Sơ đồ phân nhóm năng lực (Theo Đinh Quang Báo) Những năm gần đây, cùng với việc thực hiện đổi mới PPGD, nhiều công trình, nhiều nghiên cứu đã chú trọng đến hình thành và phát triển NL nói chung và NLTH nói riêng trong dạy học môn Sinh học [15];[17];[18]. Nội dung các công trình, các nghiên cứu đã đề cập đến các PPDH, kĩ thuật dạy học trong thiết kế hoạch dạy học, cách tổ chức dạy học, v.v theo tiếp cận năng lực.
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của nước ta cũng đã xác định NLTH và TC thuộc nhóm năng lực chung và là năng lực cốt lõi cần phải hình thành và phát triển ở người học thông qua dạy học các môn học [3]. 9 Năng lực chủ và tự học Năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Năng lực chung Năng lực ngôn ngữ Năng lực tính toán Năng Năng lực khoa học lực Năng lực công nghệ Năng lực tin học Năng lực đặc thù Năng lực thẩm mĩ Năng lực thể chất Hình 1. Sơ đồ tóm tắt phân loại năng lực theo CTGDPT 2018 Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác đã đề cập đến nội dung và cụ thể hóa NLTH và TC như sau: - Xác định được nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp trong khi học môn Sinh học - Đặt ra được mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, đặc biệt nâng cao những điểm còn yếu kém trong học môn Sinh học. - Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học môn Sinh học.
- Hình thành được phương pháp học môn Sinh học riêng của bản thân. - Tìm được các nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau khi học Sinh học. - Lựa chọn và sử dụng được các tài liệu phù hợp đối với từng chủ đề Sinh học. - Ghi chép được thông tin đã đọc bằng các hình thức phù hợp thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết.
- Tự đặt được vấn đề học tập.