CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cở sở lý luận 1. Các khái niệm chủ yếu 1. Khám phá Theo nhà nghiên cứu Hoàng Phê, thì Khám phá chính là quá trình phát hiện, tìm ra cái còn ẩn giấu, cái bí mật ở bên trong sự vật hiện tượng [18].
Tác giả Trịnh Văn Biều cũng cho rằng: “Khám phá là việc tìm ra những gì đã tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội nhưng chưa được thừa nhận một cách khách quan, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người.”[4,tr14] Như vậy, thuật ngữ khám phá biểu thị hành động phát hiện hoặc phát hiện ra thứ gì đó lần đầu tiên, tuy đã tổn tại nhưng trước đây không được công nhận là có liên quan. Theo Trần Đình Châu - Nguyễn Văn Hiến (2010) thì: “Khám phá là hoạt động tìm tòi có thể có chủ đích hoặc không có chủ đích của con người đối với một sự vât, hiện tượng trong tự nhiên hoặc xã hội để tăng khả năng nhận thức đối với sự vật, hiện tượng đó.”[5,tr8] Đây là cách tiếp cận định nghĩa “Khám phá” theo định hướng giáo dục, cũng là cách tiếp cận mà tác giả hướng đến trong nghiên cứu này. Từ góc độ tiếp cận và nghiên cứu của luận văn, chúng rôi tán thành khái niệm: Khám phá là hoạt động của con người nhằm tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn giấu của sự vật, hiện tượng mà trước đó chưa được phát hiện, chưa được thừa nhận. Thông qua kết quả khám phá, sẽ làm tăng khả năng nhận thức của con người đối với sự vật, hiện tượng được khám phá.
Học tập khám phá (Discovery-based Learning) Đây là quá trình hoạt động học học tập theo hình tức tự tìm hiểu và tương tác với thế giới xung quanh. Phương pháp học tập khám phá được hình thành 9 và phát triển lý thuyết bởi nhà tâm lý học người Mỹ Jerome Bruner từ những năm 1960. Hiện nay, có một số nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra định nghĩa khác nhau về học tập khám phá. Jean Marie Petitclerc và cộng sự (2017) cho rằng: “Học tập khám phá là một dạng học tập mà ở đó, những học sinh học cách nhận ra vấn đề, mô tả biện pháp sẽ như thế nào, tìm kiếm thông tin có liên quan, phát triển và thực hiện chiến lược được lựa chọn để giải quyết vấn đề đó.”[25,tr19] Phan Trọng Ngọ, (2002) định nghĩa: “Học tập khám phá là một phương pháp học tập trong đó con người là một đối tượng nghiên cứu tích cực, nghĩa là cá nhân thay vì nhận hướng dẫn và nội dung, phải tự mình khám phá mối liên hệ và mối quan hệ giữa các khái niệm và điều chỉnh chúng theo sơ đồ nhận thức của mình.”[15] Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi quan niệm: Học tập khám phá là một phương pháp học tập mà hoạt động của học sinh gắn liền với thực hành, tìm tòi khám phá vấn đề dựa trên kinh nghiệm và kiến thức có sẵn trong quá khứ, sử sụng trực giác, trí tưởng tượng và sáng tạo của mình, tìm kiếm các thông tin mới để khám phá sự thật, giải đáp thông tin, nội dung bài học.
Trong học tập khám phá, học sinh tích cực, chủ động kiến tạo kiến thức cho bản thân qua kinh nghiệm vốn có và qua tương tác với môi Trường học tập. Các hoạt động tìm hiểu tri thức trong hoạt động học tập khám phá được tiến hành việc học sinh hành động hoặc cán sát có định hướng, tập trung vào giải quyết vấn đề đặt ra. Thông qua đó mà tích luỹ được kiến thức, kỹ năng mới hoặc tìm hiểu sâu hơn về những tri thức đã được hình thành, rèn luyện thuần thục hơn các kỹ năng vốn có. Đối với hoạt động dạy học truyền thống, hoạt động của GV chủ yếu là tập trung vào việc truyền đạt đầy đủ những kiến thức vốn có trong sách giáo khoa và chương trình học.
Chính vì vậy hoạt động học tập khám phá ít được quan tâm và thường diễn ra một cách tự phát. Tuy nhiên, khi phương pháp dạy học tích cực ra đời, hoạt động khám phá của học sinh ngày càng được vận dụng vào trong thực tiễn các buổi học, kể cả 10 trong các tiết học lý thuyết lẫn thực hành. Những hoạt động được xếp vào hoạt động khám phá khi bằng các biện pháp của giáo viên như: phát phiếu học tập, đưa ra các dạng câu hỏi, các dạng bài tập mở,. yêu cầu HS phải tự giác tác động vào đối tượng, và bừng các thao tác phân tích, quan sát, so sánh, tổng hợp để thông qua đó HS khám phá ra được những tri thức mới, kỹ năng mới, theo đó, trong quan niệm dạy học khám phá thì HS trở thành chủ thể chính của hoạt động giáo dục, HS phải học chủ động, không thể học một cách thụ động bằng việc nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức.
Học sinh học tích cực bằng những hành động chiếm lĩnh tri thức đã để tạo ra tri thức mới cho chính mình. Những hoạt động này được thực hiện rất đa dạng và linh hoạt, có thể thực hiện chung trong cả lớp, có thể được thực hiện theo từng tổ, các nhóm nhỏ hoặc thực hiện những khâu trong quá trình học tập đẻ củng cố kiến thức, hoặc từng nhóm cá nhân khi chuẩn bị và làm bài tập ở nhà. Trên cơ sở mức độ khám phá tri thức của HS, hoạt động học tập khám phá có thể chia thành 3 mực độ khác nhau theo cấp độ tăng dân. - Trước hết là hoạt động học tập có tính bắt chước: Trong hoạt động này, HS thực hiện những thao tắc căn bản, đó chính là lặp lại những kiến thức, những điều mà GV đã giảng dạy và hướng dẫn chi tiết.
- Hai là, ở cấp độ cao hơn, có tính luyện tập: Lúc này, khi thực hiện nhiệm vụ học tập, HS phải sử dụng những kỹ năng dã được trang bị để vận dụng vào giải quyết vấn đề đặt ra. -Ba là, có tính nghiên cứu: HS thu nhận được những kiến thức hoàn toàn mới bằng hành động của chính mình như: Tự lực, độc lập, quan sát, làm thí nghiệm, thực hành,. Dạy học khám phá Theo quan điểm của các tác giả Trần Đình Châu - Nguyễn Văn Hiến (2010) thì dạy học khám phá là: “Phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của GV, thông qua các hoạt động, HS khám phá ra một tri thức nào đấy trong chương trình môn học.”[5,tr12] 11 Đối với hình thức dạy học khám phá, người GV phải thực sự đầu tư công sức rất nhiều mới có thể đáp ứng yêu cầu đề ra. Trong đó trọng tậm là việc hướng dẫn và tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh.
Cụ thể: - Hoạt động của GV: Lựa chọn nội dung kiến thức bảo đảm tính vừa sức đối với HS, định hướng phát triển tư duy cho HS theo nội dung kiến thức lựa chọn đồng thời tổ chức cho HS thảo luận the nhóm trên lớp, hướng dẫn HS sử dụng và lựa chọ các công cụ hỗ trợ cần thiết, nhất là các phương tiện trực quan. Tạo ra môi trường học tập thuận tiện nhất để HS tự giải quyết vấn đề. - Hoạt động của HS: Trên cơ sở vốn sống, kinh nghiệm và tri thức vốn có của bản thân cũng như thông qua các hoạt động phối hợp với bạn bè trong học tập đã hình thành nên những keién thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. GV chốt lại các ý chính, nhận xét ý kiến của HS để từ đó làm cơ sở tự điều chỉnh, tự kiểm tra kiến thức.
Động lực của quá trình dạy học đó chính là việc trực tiếp kích thích lòng đam mê, ham học hỏi của HS. Hoạt động tìm ra tri thức mới phải là quá trình khám phá thực sự mới tạo nên động lực thực chất của việc học. Đó cũng chính là quá trình nhận thức độc đáo. HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức để tạo nên sự linh hoạt trong tư duy và năng lực tự học.
Đây chính là nhân tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của mỗi HS. Kết quả của việc dạy học khám phá không chỉ đem đến lợi ích thiết thực về mặt tinh thần cho cả GV và HS mà còn là nền tảng để những yếu tố mới có cơ hội được ươm mầm sinh sôi nảy nở. Chính vì vậy, bản chất của quá trình dạy học khám pháp là sự tìm kiếm , khám phá tri thức khoa học và chuẩn mực xã hội. Sviniki (1998), có ba đặc điểm chính của dạy học khám phá: Thứ nhất là học tập tích cực, thứ hai học tập có ý, cuối cùng là thay đổi thái độ và niềm tin.
Trong đó: - Học tập tích cực: Là người học tham gia vào quá trình học tập với một thái độ tích cực, 12 việc tiếp thu kiến thức hoàn toàn mang tính chủ động chứ không phải là sự thụ động từ những lời giảng của GV. Khi HS sẽ tập trung chú ý trong quá trình học tập của mình, vì thái độ học tập mang tính tích cực. Ngược lại, nếu như chủ quan lơ là, thì quá trình học tạp sẽ không xảy ra và không đạt hiệu quả. Trong quá trình học tập, những tư tưởng, nội dung then chốt được HS chú ý then chốt.
Các hoạt động được thiết kế với mục đích để làm rõ một quy trình, một khái niệm chứ không đơn thuẩn chỉ vì để hoạt động tích cực. Giaii đoạn đầu tiên của quá trình học tập là việc phát hiện ra cái cần được học và học sinh được thu hút vào những hoạt động đó. Để kiến tạo nên những lời giải, những kiến thức mới thì cần phải tham gia tích cực vào quá trình học tập. Từ đó, HS có điều kiện thực hiện các quá trình xử lý thông tinh một cách toàn diện hơn.
Quá trình học tập khám phá, HS thường dựa vào tri thức trước đó để đáp ứng những yêu cầu trong các hoạt động. Các em phải trải qua một quá trình xử lý thông tin, tài liệu. Quá trình này sẽ giúp các em thuận lợi về sau khi cần vì nó đã có sự gắn kết chặt chẽ với những tri thức mà các em đã được trang bị. Học tập khám phá tạo điều kiện cho HS có cơ hội để được phản hồi sớm việc nắm kiến thức của mình.
Đối với phương pháp dạy học truyền thống, người GV thường dạy theo mô típ giáo án, dạy học theo tốc độ và kinh nghiệm bản thân, ít quan tâm đến việc học sinh có nắm được bài hay không.