phần mở đầu, hai chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 17 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO CỦA LỰC LƢỢNG CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Đồng bào Công giáo và những vấn đề cơ bản về công tác vận động đồng bào Công giáo của lực lƣợng Công an thành phố Hồ Chí Minh 1. Đồng bào Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh * Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ tăng GDP bình quân là 11%.
Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước, tỷ trọng GDP của Thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình phát triển luôn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khu vực và cả nước, Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 14/9/1982, khẳng định: “Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ chí Minh còn có vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội…”. Phát biểu tại Đại Hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2006-2010, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn về nhiều mặt của cả nước, có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.
Nhiệm vụ quan trọng trước hết của Thành phố là phấn đấu đi đầu cả nước về phát triển kinh tế, về đích trước tiên trên tất cả các mục tiêu”. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung khá đông đồng bào Công giáo (khoảng 688. Do đó, việc vận động đồng bào Công giáo một cách đúng đắn và có hiệu quả là vấn đề hệ trọng, không những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp và nhu cầu của một bộ phận đồng bào Công giáo, mà còn tác động không nhỏ đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Nhận thức rõ điều đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng triệt để và thực hiện chính sách đúng đắn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước như: Nghị quyết số 24/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 16/10/1990, Nghị Luan van 18 quyết số 25/NQ-TW của Ban chấp hành TW ngày 12/3/2003 về công tác vận động đồng bào có đạo, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 18/6/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2004, Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005 về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 92/2012/NĐ- CP quy định chi tiết, biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ nhằm cụ thể hóa tư tưởng, tinh thần pháp lệnh, hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong tình hình hiện nay.
Những văn bản trên đã thể hiện những bước tiến rất quan trọng trong việc đổi mới chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tôn giáo; thể hiện sự tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn. * Lịch sử hình thành Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh Lịch sử Công giáo tại Việt Nam ghi nhận một nhà thừa sai truyền giáo tên là Inêkhu đã đặt chân đến vùng đất Bùi Chu của lãnh thổ Việt Nam vào năm 1533, thời đại nhà Lê Trung Hưng. Năm 1550 cũng có nhà thừa sai thuộc Dòng Đa Minh là linh mục Juandela Cruz đặt chân đến vùng đất Hà Tiên ngày nay. Đến năm 1585, những linh mục thuộc dòng Phanxicô đã có mặt trên vùng đất mà ngày nay là Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là ở khu vực Chợ Quán.
Cũng trong giai đoạn này, Chúa Nguyễn đã kiểm soát được phần lãnh thổ phía Nam sông Gianh, gọi là Đàng Trong. Từ năm 1641 đến 1645, khi chúa Nguyễn ra chỉ dụ cấm Đạo Công giáo thì một số giáo dân từ miền Trung Việt Nam di tản vào miền Nam để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Họ hợp thành những cộng đoàn tín hữu Công giáo đầu tiên ở miền Nam và tập trung quanh khu vực Sài Gòn như Chợ Quán, Gia Định, Lái Thiêu, Bến Gỗ và Long Thành. Ngày 17 tháng 5 năm 1844, Giáo hoàng Grêgôriô XVI quyết định phân chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới là Đông Đàng Trong (với Quy Nhơn làm trung tâm) và Tây Đàng Trong (với Sài Gòn là trung tâm, sáp nhập thêm cả Campuchia vào đó).
Ông cũng bổ nhiệm Giám mục Dominique Luan van 19 Lefèbvre (tên Việt là Ngãi; sinh năm 1844, mất năm 1864) làm Đại diện Tông Tòa đầu tiên cai quản Giáo phận Tây Đàng Trong. Giáo phận Tây Đàng Trong khi đó có lãnh thổ bao gồm Nam Kỳ Lục tỉnh và cả Campuchia ngày nay, với khoảng 23. Đến năm 1850, tỉnh An Giang và Hà Tiên cùng lãnh thổ Campuchia tách ra khỏi Giáo phận Tây Đàng Trong để thành lập nên Giáo phận Nam Vang. Lúc này, địa giới của Giáo phận Tây Đàng Trong chỉ còn bốn tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Vĩnh Long, được chia làm 12 giáo hạt: Ðất Ðỏ, Tân Triều, Lái Thiêu, Thủ Ðức, Thị Nghè, Chợ Lớn, Thủ Ngữ, Xoài Mít, Cái Nhum, Cái Mơm, Bãi San và Ðầm Nước.
Sau khi đặt được ách đô hộ ở Việt Nam, đế quốc Pháp đã tạo mọi điều kiện cho Công giáo phát triển nhằm làm cho tôn giáo này trở thành một lực lượng hậu thuẫn đắc lực để củng cố, bảo vệ ách thống trị thực dân Pháp. Ngày 3 tháng 12 năm 1924, giáo phận tông tòa Tây Ðàng Trong được đổi tên thành giáo phận tông tòa Sài Gòn (không điều chỉnh địa giới) và Giám mục cai quản là Isidore Marie Dumortier (tên Việt là Ðượm) thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), đến ngày 8 tháng 01 năm 1938, Giáo phận Sài Gòn lại tách một phần đất của mình để thành lập Giáo phận Vĩnh Long (gồm tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Ðéc và một phần tỉnh Cần Thơ). Năm 1946 đế quốc Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, những giáo sỹ cầm đầu giáo hội lúc đó cùng lực lượng linh mục còn trung thành với chế độ thực dân đã ráo riết hoạt động chống cách mạng, phá hoại công cuộc kháng chiến của nhân dân ta, phục vụ đắc lực cho đế quốc Pháp. Cuối năm 1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn tạm thời bị thực dân Pháp chiếm đóng.
Âm mưu của Mỹ và Pháp là chia cắt lâu dài nước ta đồng thời chuẩn bị lực lượng và thời cơ đánh ra Bắc. Sự câu kết, lừa mị của các phần tử phản động trong giáo hội, cưỡng ép, đốc thúc giáo dân miền Bắc “đi theo chúa” vào Nam.500 giáo dân và 809 linh mục đã di cư [Phụ lục 5], phần lớn giáo dân Công giáo di cư tìm đến định cư ở Giáo phận Sài Gòn khiến cho số lượng giáo dân tăng vọt. Năm 1955, Linh mục Simon Hòa Luan van 20 Nguyễn Văn Hiền được tấn phong làm Giám mục cai quản Giáo phận Sài Gòn, thay thế Giám mục Cassaige (tên Việt là Sanh). Năm 1958, Mỹ hất cẳng Pháp ở miền Nam.
Lực lượng phản động trong Công giáo được phát triển mạnh trở thành chỗ dựa tin cậy của Mỹ trong âm mưu biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Đế quốc Mỹ đã dùng Ngô Đình Diệm (theo đạo Công giáo, được CIA nuôi dưỡng, dựng lên ngụy quyền Sài Gòn). Thực hiện âm mưu tôn giáo hóa nhân dân miền Nam, Mỹ- Ngụy tạo điều kiện cho đạo Công giáo phát triển với ý đồ đưa tôn giáo này thành “quốc đạo”. Thế lực của giáo hội được củng cố và bành trướng.
“Hội đồng giám mục Việt Nam” được thành lập, sau khi Vatican chấp thuận Công giáo ở Việt Nam là một giáo hội chính thức. Các phần tử phản động lợi dụng Công giáo được coi là lực lượng nòng cốt của tổ chức chính trị phản động “cần lao nhân vị” và “phong trào cách mạng quốc gia”, lực lượng xung kích của Mỹ - Diệm trong việc đàn áp các giáo phái mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” gom dân lập ấp chiến lược, lùng sục giết hại những người yêu nước. Vì vậy, chúng thực sự trở thành lực lượng tay sai nguy hiểm, công cụ đắc lực và hung bạo nhất của Mỹ - Ngụy nhằm chống cộng, bình định miền Nam và chuẩn bị Bắc tiến. Trong quân Ngụy, Mỹ đặc biệt chú trọng xây dựng những đơn vị gồm toàn bộ tín đồ Công giáo gốc Bắc di cư.
Một lực lượng lớn gián điệp, biệt kích tuyển chọn trong số tín đồ đó, được huấn luyện và tung ra các vùng tập trung Công giáo ở Miền Bắc. Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam với ba giáo tỉnh Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Giáo phận Sài Gòn có vị thế quan trọng về tôn giáo và chính trị ở miền Nam Việt Nam nên được nâng cấp thành tổng giáo phận Sài Gòn ngay trong dịp này và trở thành trung tâm của Giáo tỉnh Sài Gòn. Ngày 02 tháng 4 năm 1961 Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình nhậm chức Tổng Giám mục Sài Gòn thay Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền.
Năm 1963, giáo phận Sài Gòn có gần 567.455 giáo dân với 583 linh mục triều, 25 linh mục dòng, 503 nam tu, gần 2000 nữ tu với 263 giáo xứ và 284 giáo họ. Năm 1965, Tòa Thánh tách Luan van 21 đất từ tổng giáo phận Sài Gòn để thành lập giáo phận Phú Cường và giáo phận Xuân Lộc. Sau Hiệp định Pari năm 1973 Mỹ bắt buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Để tiếp sức cho bọn phản động tiếp tục chống phá cách mạng, Mỹ đã tăng thêm viện trợ cho đạo Công giáo.
Các phần tử phản động trong giáo hội, nhất là những phần tử cực đoan vẫn chủ trương chống cộng đến cùng. Được Mỹ khích lệ, chúng đã lập nhiều “mật khu”, âm mưu biến các vùng tập trung đồng bào theo Công giáo, đặc biệt là các vùng Bắc di cư thành “phòng tuyến chống cộng”.