Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một dạng quan hệ pháp lý đặc thù gắn liền với quan hệ nhân thân phát sinh từ sự kiện kết hôn hợp pháp. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu tài sản tại Việt Nam, các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại của cá nhân ngày càng mở rộng, kéo theo sự phức tạp trong việc xác định, quản lý và định đoạt khối tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy nhiều quy định đã bộc lộ khoảng trống pháp lý, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong nhận thức và xét xử tại Tòa án các cấp.

Đề tài "Một số vấn đề về tài sản trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam" do sinh viên Nguyễn Văn Hiệu thực hiện (năm 2010, Khoa Luật Kinh tế – Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Triều Hoa) tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ hệ thống lý luận và cơ chế pháp lý về tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Bộ luật Dân sự năm 2005.
  2. Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật thông qua các bản án, tình huống tranh chấp điển hình liên quan đến căn cứ xác lập, đăng ký quyền sở hữu, chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và chia tài sản khi ly hôn.
  3. Chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn giữa quy định pháp luật thực định và tập quán xã hội, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp lý.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở chế định tài sản của vợ và chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005 và thực tiễn xét xử tại các cấp Tòa án tính đến năm 2010.


Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống văn bản pháp lý làm nền tảng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và án lệ thực tế:

  • Hiến pháp năm 1992 (Điều 57 về quyền tự do kinh doanh, Điều 58 về quyền sở hữu tài sản của công dân).
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (đặc biệt là các Điều 8, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 95, 96) cùng việc tham chiếu lịch sử lập pháp của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và năm 1986.
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 163 về định nghĩa tài sản, Điều 182, 192, 195 về các quyền năng sở hữu, Điều 211 về sở hữu tư nhân, Điều 217 về sở hữu chung hợp nhất, Điều 233, Điều 467 về tặng cho bất động sản, Điều 635 về quyền để lại di sản thừa kế) và Bộ luật Dân sự năm 1995.
  • Luật Đất đai năm 2003 (Điều 106 về điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất).
  • Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
  • Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
  • Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
  • Pháp luật nước ngoài: Tham chiếu Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 1401, 1402, 1404, 1421, 1431, 1536) và chế độ tài sản tại Đức, Áo, Thụy Sĩ, Thái Lan.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Hệ thống hóa các quy phạm pháp luật nhằm định hình bản chất pháp lý của sở hữu chung hợp nhất và sở hữu riêng.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (1959, 1986, 2000) và so sánh với pháp luật của Pháp nhằm tìm kiếm gợi ý hoàn thiện.
  • Phương pháp phân tích án lệ thực tế: Sử dụng các số liệu, tài liệu thu thập từ quá trình thực tập tại Văn phòng Luật sư Tuệ Đức và phân tích 4 vụ án, quyết định giám đốc thẩm điển hình của Tòa án nhân dân các cấp tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN

Chương này làm rõ nền tảng lý luận về khái niệm tài sản và chế độ tài sản vợ chồng:

  • Bản chất tài sản: Dưới góc độ pháp lý (Điều 163 BLDS 2005), tài sản bao gồm: vật (hữu hình, thỏa mãn nhu cầu, chiếm hữu không gian), tiền (phương tiện thanh toán, lưu trữ, định giá), giấy tờ có giá (cổ phiếu, séc, sổ tiết kiệm, tín phiếu...) và quyền tài sản (trị giá được bằng tiền, chuyển giao được trong giao dịch dân sự).
  • Chế độ tài sản chung:
    • Căn cứ xác lập: Tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh; thu nhập hợp pháp khác (tiền thưởng, trợ cấp, trúng thưởng xổ số theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP); tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung; tài sản do hai bên thỏa thuận sáp nhập; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn; nguyên tắc suy đoán tài sản chung khi không chứng minh được là tài sản riêng (khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ 2000).
    • Chế độ pháp lý: Thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia phần quyền (Điều 217 BLDS 2005). Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Các giao dịch định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình đòi hỏi sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng (Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP).
    • Chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại: Quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ 2000 cho phép vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản để kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc vì lý do chính đáng khác mà không đồng nghĩa với ly thân. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người.
    • Chia tài sản khi một bên chết: Điều 31 Luật HN&GĐ 2000 và Điều 12 Nghị định 70/2001/NĐ-CP cho phép bên còn sống yêu cầu tạm hoãn phân chia di sản thừa kế tối đa 3 năm nếu việc phân chia gây khó khăn nghiêm trọng cho cuộc sống của gia đình.
  • Chế độ tài sản riêng:
    • Căn cứ xác lập (Điều 32): Tài sản có trước khi kết hôn; tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng từ khối tài sản chung; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản được chia riêng; đồ dùng, tư trang cá nhân.
    • Chế độ pháp lý (Điều 33): Vợ chồng có quyền sở hữu tư nhân độc lập, tự quản lý và thanh toán các nghĩa vụ tài sản riêng. Quyền này bị giới hạn khi hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình (việc định đoạt phải có sự thỏa thuận của cả hai bên) hoặc khi tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Nội dung so sánh Tài sản chung của vợ chồng Tài sản riêng của vợ, chồng
Hình thức sở hữu Sở hữu chung hợp nhất (Điều 217 BLDS 2005) Sở hữu tư nhân của cá nhân (Điều 211 BLDS 2005)
Căn cứ xác lập chính Tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; thừa kế/tặng cho chung; thỏa thuận sáp nhập; suy đoán pháp lý khi không chứng minh được nguồn gốc riêng Có trước kết hôn; thừa kế/tặng cho riêng; tài sản được chia từ tài sản chung; đồ dùng tư trang cá nhân
Quyền định đoạt Cả hai có quyền ngang nhau; giao dịch tài sản lớn/nguồn sống duy nhất bắt buộc thỏa thuận bằng văn bản Tự do định đoạt; bị hạn chế khi tài sản/hoa lợi là nguồn sống duy nhất của gia đình
Trách nhiệm nghĩa vụ Thực hiện các nghĩa vụ chi dùng chung cho gia đình (Điều 11 NĐ 70/2001/NĐ-CP) Tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng, trừ khi tài sản chung không đủ cho nhu cầu thiết yếu

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN TRONG HÔN NHÂN

Chương 2 tập trung phản ánh các bất cập và xung đột pháp lý thông qua các tình huống thực tiễn:

1. Bất cập trong căn cứ xác lập tài sản

  • Dựa vào nguồn gốc tài sản (Án điểm Anh An – Chị Liên, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 8/2004): Bố mẹ cho đất ở riêng (128m² năm 1987) theo tập quán truyền thống "xây nhà gả vợ" mà không lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất theo Điều 467 BLDS 2005 và Điều 106 Luật Đất đai 2003. Khi ly hôn, bên bố mẹ và con trai khẳng định chỉ cho ở nhờ, dẫn đến việc Tòa án lúng túng giữa việc bảo vệ quyền lợi của người vợ có công xây dựng, tôn tạo nhà cửa và quy định chặt chẽ về hình thức hợp đồng tặng cho bất động sản.
  • Dựa vào thỏa thuận nhập tài sản riêng (Tình huống Anh A – Chị B): Việc nhập các tài sản riêng có giá trị lớn (máy tính, tủ lạnh, tivi mua từ trước hôn nhân) vào khối tài sản chung bằng giấy tờ viết tay không công chứng, chứng thực. Tòa án công nhận tính hiệu lực dựa trên chữ ký, trong khi quy định tại Điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ-CP đòi hỏi các tài sản giá trị lớn phải tuân thủ điều kiện hình thức chặt chẽ.

2. Vấn đề đăng ký tài sản chung và hiệu lực thời gian

Phân tích khoản 2, 3 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP chỉ ra 4 tình huống thực tiễn:

  1. Tài sản chung chưa đăng ký sau khi Nghị định có hiệu lực: Bắt buộc ghi tên cả vợ và chồng.
  2. Tài sản chung đã đăng ký trước Nghị định nhưng chỉ đứng tên một người: Phải đăng ký lại (gây tốn kém, khó khăn trong thực hiện thủ tục hành chính).
  3. Tài sản đã đăng ký một người đứng tên nhưng không yêu cầu cấp đổi: Pháp luật vẫn thừa nhận là tài sản chung, làm giảm hiệu lực thực tế của quy định đăng ký cả hai tên và khiến Giấy chứng nhận không phản ánh chính xác tư cách chủ sở hữu.
  4. Tài sản chung là động sản bắt buộc đăng ký quyền sở hữu (ô tô, xe máy, tàu thuyền): Cơ quan đăng ký theo quy định chuyên ngành chỉ ghi tên một người, tạo nên xung đột giữa khoản 1 (nguyên tắc tạo lập) và khoản 2 (nguyên tắc đăng ký) của Điều 27 Luật HN&GĐ 2000.

3. Bất cập khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Điều 29 Luật HN&GĐ 2000 quy định chia tài sản khi có "lý do chính đáng khác" nhưng không có văn bản giải thích chuẩn mực định tính, dẫn đến áp dụng tùy tiện:

  • Trường hợp vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc muốn sống ly thân mà không muốn ly hôn để bảo vệ danh dự, con cái: Cần được coi là lý do chính đáng để chia tài sản nhằm ổn định cuộc sống riêng.
  • Trường hợp một bên có thu nhập đột biến (lương cao ở công ty nước ngoài) yêu cầu chia tài sản nhằm chuyển hóa toàn bộ thu nhập tương lai thành tài sản riêng: Không được coi là lý do chính đáng vì vi phạm nguyên tắc công nhận công sức lao động nội trợ gia đình ngang với lao động tạo thu nhập (khoản 2 Điều 95).

4. Vướng mắc trong phân chia tài sản khi ly hôn

  • Trường hợp sống chung với gia đình (Quyết định giám đốc thẩm số 14/HĐTP-DS ngày 25/5/2003 của HĐTP TANDTC vụ Chị L – Anh D): Tranh chấp căn nhà P106-N35 tập thể Viện X (từ 18m² tiêu chuẩn bà T tăng lên 40,02m² do chị L nỗ lực cải tạo, sửa chữa 74 triệu đồng và nộp tiền mua hóa giá nhà). Tòa sơ thẩm và phúc thẩm chỉ chia tiền sửa chữa là xâm phạm quyền lợi của chị L. Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hủy án để điều tra, ghi nhận phần tài sản tương ứng công sức đóng góp của vợ chồng trong khối tài sản gia đình.
  • Nguyên tắc phân chia hiện vật gắn với tư liệu sản xuất và hoàn cảnh sống (Bản án phúc thẩm số 173 ngày 27/01/2003 của TAND TP.HCM vụ Ông La Quốc Hùng – Bà La Kim Anh): Tranh chấp nhà số 261 Phan Đình Phùng (trị giá 600 lượng vàng SJC). Tòa sơ thẩm giao nhà cho ông Hùng vì lý do "nhà nguồn gốc gia tộc". Tòa phúc thẩm sửa án, giao nhà cho bà Anh sở hữu (thanh toán lại giá trị cho ông Hùng) vì bà Anh trực tiếp nuôi 4 con nhỏ và duy trì cơ sở kinh doanh mua bán sơn tại đây, đảm bảo đúng tinh thần bảo vệ lợi ích phụ nữ, con chưa thành niên và bảo đảm tư liệu sản xuất theo khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ 2000.

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT VÀI GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Chương 3 đề xuất các định hướng lập pháp xuất phát từ thực tiễn bất cập:

  • Hoàn thiện căn cứ xác lập tài sản chung từ nguồn tặng cho của cha mẹ: Đề xuất bổ sung quy định đặc thù đối với việc cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất cho con cái sau kết hôn không nhất thiết bắt buộc lập hợp đồng tặng cho công chứng, nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện:
    1. Con cái đã sinh sống hoặc canh tác ổn định, liên tục từ 10 năm trở lên.
    2. Cha mẹ đã đồng ý cho xây dựng nhà ở kiên cố phục vụ đời sống riêng của gia đình người con.
    3. Có các căn cứ, chứng cứ phù hợp chứng minh ý chí phân chia tặng cho của cha mẹ (tỷ lệ phân chia giữa các anh em hoặc sự thừa nhận thực tế).
  • Quy định linh hoạt về thỏa thuận nhập tài sản riêng: Bổ sung cơ chế xác định việc đưa tài sản riêng vào sử dụng chung phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời gian dài mà không có phản đối, tránh sự cứng nhắc trong việc áp dụng điều kiện công chứng đối với các động sản sinh hoạt gia đình.
  • Đồng bộ hóa thủ tục đăng ký quyền sở hữu: Quy định thống nhất mẫu giấy chứng nhận đăng ký đối với cả bất động sản và các động sản phải đăng ký (phương tiện cơ giới) để thể hiện đồng sở hữu của cả vợ và chồng; thiết lập cơ chế liên thông giữa cơ quan hộ tịch và cơ quan đăng ký quyền sở hữu.
  • Hướng dẫn cụ thể tiêu chí "lý do chính đáng khác" tại Điều 29: Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các trường hợp được chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (như thực tế ly thân kéo dài, bảo đảm kinh doanh độc lập có rủi ro cao) và các trường hợp bị cấm (nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ tài chính hoặc trục lợi từ thu nhập cá nhân).
  • Xây dựng tiêu chí định lượng công sức đóng góp: Bổ sung phương pháp xác định tỷ lệ đóng góp của con dâu/con rể khi sống chung với gia đình chồng/vợ dựa trên các yếu tố: giá trị tôn tạo, chi phí hoàn thiện, công sức chăm sóc và nguồn tiền thực tế bỏ ra để mua hóa giá tài sản.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ chế pháp lý về tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam thời kỳ Luật HN&GĐ 2000 và BLDS 2005, chỉ rõ mối quan hệ giữa quyền sở hữu chung hợp nhất và quyền tự chủ tài sản cá nhân.
  • Thông qua 4 bản án và tình huống thực tiễn có số liệu cụ thể (vụ phân chia 128m² đất mẹ cho ở nhờ; vụ phân chia căn hộ tập thể Viện X 40,02m²; vụ phân chia nhà 261 Phan Đình Phùng trị giá 600 lượng vàng SJC...), đề tài đã chứng minh sự thiếu nhất quán trong phán quyết của các cấp Tòa sơ thẩm so với Tòa phúc thẩm và Giám đốc thẩm.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

  • Nhận diện xung đột mang tính cấu trúc giữa quy định cứng nhắc về hình thức hợp đồng tặng cho bất động sản trong luật thực định và tập quán tặng cho bằng miệng của xã hội Việt Nam.
  • Đề xuất giải pháp bổ sung cơ chế suy đoán pháp lý dựa trên thời gian cư trú ổn định (10 năm) và hành vi cho phép xây nhà, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên yếu thế (đặc biệt là phụ nữ nuôi con nhỏ) khi xảy ra ly hôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ chuyên đề tốt nghiệp cử nhân luật, nguồn số liệu thực tế chủ yếu dựa vào các bản án điển hình được công bố và hồ sơ tại đơn vị thực tập (Văn phòng Luật sư Tuệ Đức) nên chưa bao quát được toàn bộ các dạng tranh chấp tài sản trên phạm vi cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu sang chế độ tài sản ước định (thỏa thuận tiền hôn nhân/hôn ước) theo kinh nghiệm của Bộ luật Dân sự Pháp và các quốc gia phát triển nhằm bổ sung cho chế độ tài sản pháp định thuần túy của Việt Nam; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba trong các giao dịch thương mại có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Kinh doanh khi tìm kiếm tài liệu phân tích án lệ thực tế và lý luận sở hữu chung hợp nhất.
  • Người làm thực tiễn pháp lý: Luật sư, thẩm phán, cán bộ tư pháp - hộ tịch có thể tham khảo các lập luận về việc xác định công sức đóng góp khi sống chung với gia đình và nguyên tắc ưu tiên phân chia hiện vật theo nhu cầu nuôi con và duy trì sản xuất kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng là "sở hữu chung hợp nhất"?

Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 và Điều 217 BLDS 2005, sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu mà phần quyền của mỗi chủ sở hữu không được xác định cụ thể trong khối tài sản chung khi chưa phân chia. Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản, không phụ thuộc vào mức thu nhập thực tế của mỗi người. Quy định này thể hiện tính bình đẳng và công nhận giá trị của lao động nội trợ gia đình tương đương với lao động tạo thu nhập.

2. Một bên vợ hoặc chồng có thể tự ý định đoạt tài sản chung có giá trị lớn không?

Không. Theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ 2000 và Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình bắt buộc phải có sự bàn bạc, thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng. Nếu một bên tự ý xác lập giao dịch mà không có sự đồng ý hoặc không có giấy ủy quyền hợp pháp, bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu.

3. Trong vụ án ly hôn giữa chị L và anh D (Quyết định số 14/HĐTP-DS), tại sao TAND Tối cao lại hủy bản án phúc thẩm?

Bản án phúc thẩm bị hủy vì Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ xác định chi phí sửa chữa nhà (74 triệu đồng) mà không tính đến công sức đóng góp của chị L trong việc nỗ lực xin cấp nhà, nâng diện tích căn hộ từ 18m² lên 40,02m² và nộp tiền mua hóa giá nhà theo tiêu chuẩn bà T. Quyết định giám đốc thẩm khẳng định trong khối tài sản này có phần tài sản thuộc công sức của vợ chồng và cần xem xét giao hiện vật vì chị L trực tiếp nuôi con nhưng không có chỗ ở khác.

4. Bất cập lớn nhất khi áp dụng quy định đăng ký tài sản chung ghi tên cả vợ và chồng theo Nghị định 70/2001/NĐ-CP là gì?

Quy định tại Điều 5 Nghị định 70/2001/NĐ-CP tạo ra tình trạng tồn tại song song hai loại giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu: một loại ghi tên cả hai vợ chồng và một loại chỉ ghi tên một người (đối với tài sản đăng ký trước ngày Nghị định có hiệu lực hoặc động sản như xe máy, ô tô). Do cơ quan đăng ký phương tiện chỉ ghi tên một người, việc xác định tài sản chung hay riêng vẫn phải dựa vào tình trạng hôn nhân và việc chứng minh nguồn gốc, gây mâu thuẫn giữa nguyên tắc xác lập dựa trên nguồn gốc (khoản 1 Điều 27) và nguyên tắc dựa trên đăng ký (khoản 2 Điều 27).

5. Tác giả đề xuất giải pháp gì đối với trường hợp cha mẹ cho đất con cái bằng miệng nhưng không lập văn bản?

Tác giả đề xuất không bắt buộc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản công chứng nếu thỏa mãn 3 điều kiện: người con đã sinh sống hoặc canh tác ổn định từ 10 năm trở lên; cha mẹ đã đồng ý cho xây nhà ở kiên cố để phục vụ cuộc sống riêng của vợ chồng; và có các căn cứ phù hợp xác định đó là phần tài sản được chia tặng cho (như tỷ lệ phân chia giữa các anh em hoặc sự thừa nhận thực tế).


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Hiệu đã phân tích sâu sắc các khía cạnh lý luận và thực tiễn của chế định tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Bộ luật Dân sự năm 2005. Công trình chỉ rõ những mâu thuẫn giữa quy định pháp luật thực định và tập quán xã hội, đặc biệt trong việc đăng ký tài sản, phân chia tài sản khi sống chung với gia đình và giải quyết tranh chấp nhà đất. Các đề xuất sửa đổi về điều kiện xác lập tài sản chung và hướng dẫn tiêu chí phân chia tài sản mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động xét xử tại Tòa án.