CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN 1. Trong cuộc sống của con người hiện đại, mối quan hệ giữa người với người luôn bị chi phối bởi hai yếu tố: nhân thân và tài sản. Tài sản của vợ chồng cũng là một dạng tài sản của xã hội, được chi phối bởi tất cả các quy luật tự nhiên và không nằm ngoài vòng điều chỉnh của pháp luật. Chế độ tài sản của vợ chồng được Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh một cách khá cụ thể.
Nhưng do tính gắn kết rộng rãi của mình, nó còn được điều chỉnh bởi các nghành luật khác như: Luật dân sự, Luật đất đai… Theo từ điển tiếng Việt thì “Tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu" 1 Từ điển tiếng Việt định nghĩa khá ngắn gọn, vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu là có thể coi là tài sản được rồi. Trong ngành kinh tế nói chung, tài chính nói riêng, thì tài sản lại có thể được chia làm nhiều loại khác nhau, song tất cả các loại tài sản của ngành kinh tế đều mang một đặc điểm đó là: định giá được bằng tiền và có thể trao đổi được. Trong khoa học pháp lý “Tài sản là vật và lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ sở hữu” 2 1 Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb tpHCM, năm 2002 2 Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb CAND, năm 1999) Như vậy để được xem là tài sản thì vật hay lợi ích thuộc vật phải thuộc sở hữu của một người cụ thể, là cá nhân, pháp nhân, tổ chức … những người này được gọi chung là chủ sở hữu. Tài sản với vai trò là khách thể của quyền sở hữu được pháp luật quy định trong điều 163 của Bộ luật sân sự 2005: “tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác.” Xem xét dưới góc độ pháp luật, chúng ta có được cái nhìn chi tiết hơn về tài sản, theo cách hiểu của Viện khoa học pháp lý được thể hiện trong cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005” thì: “vật được coi là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật, thực vật, với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).
Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được bằng năm giác quan con người và chiếm hữu một phần không gian.” Để có thể giải quyết được vấn đề mà đề tài đưa ra, trong cách hiểu rộng rãi của khoa học pháp lý, vật là tài sản khi thỏa mãn ba điều kiện: - Là một bộ phận của thế giới vật chất. - Đáp ứng nhu cầu của con người. - Thuộc sở hữu của chủ thể nhất định. Và vật cũng có thể được hình thành trong tương lai.
Bằng một con đường chắc chắn nào đó, xác định được giá trị, chủ sở hữu, khi ấy, vật hình thành trong tương lai cũng là tài sản. Đó có thể là hoa lợi và lợi tức. Bên cạnh vật thì tiền cũng là một phần của tài sản theo quy định của pháp luật. Đồng tiền hiện đại được nhà nước ban hành và kiểm soát chặt chẽ.
Tiền còn có tư cách đại diện cho chủ quyền của một quốc gia, người có tiền (chủ sở hữu) không thể toàn quyền định đoạt mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nước liên qua tới tiền. Tiền hiện đại thực hiện ba chức năng chủ yếu: là trung gian trao đổi, đơn vị tính toán, là nơi lưu trữ. Giấy tờ có giá là giấy tờ được trị giá được bằng tiền và được đưa vào giao dịch dân sự.3 Loại giấy tờ nào là giấy tờ có giá và tính chất của mỗi loại giấy tờ này được pháp luật quy định trong khoảng mười thông tư và quyết định từ năm 2006 đến nay. Giấy tờ có giá gồm một số loại như sau: cổ phiếu, công trái, séc, giấy ủy nhiệm chi, tín phiếu, kì phiếu, sổ tiết kiệm….
Cuối cùng trong các loại tài sản được pháp luật liệt kê đó là: Quyền tài sản khác. Quyền tài sản theo cách hiểu rộng rãi của khoa học pháp lý đó là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Các quyền tài sản khác có thể là những quyền mà chủ sở hữu có thể có được một tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá) trong tương lai. Đó có thể là quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế….
Cho dù là quyền nào, muốn là tài sản thì nó phải thỏa mãn 2 điều kiện: - Phải giá trị được bằng tiền - Chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Như vậy, cụ thể về đâu là tài sản được luật định đã rõ ràng. Vấn đề tầm quan trọng của tài sản trong đời sống con người cũng đã được nêu ra. Tầm quan trọng của tài sản trong đời sống nói chung và các trong các mối quan hệ nói riêng là vô cùng to lớn.
Thế nên, chế định sở hữu tài sản của vợ và chồng là một chế định quan trong trong Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ). Nó là cơ sở quan trọng để dựa và đó xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, từ đó mà vợ chồng có thể thực hiện nghĩa vụ và quyền về tài sản của mình. Khái niệm tài sản chung - tài sản riêng của vợ chồng. Theo điều 27 Luật HN&GĐ 2000: 1.
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung 3 Bình luận nội dung mới của BLDS 2005, Nxb Tư pháp HN, năm 2005, tr128) hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Nội dung quy định của điều luật quy định khá rõ ràng về vấn đề đâu là tài sản chung. Để làm rõ “thu nhập hợp pháp khác” là những loại thu nhập nào, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, hướng dẫn “những thu nhập hợp pháp khác” của vợ chồng có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số mà vợ hoặc chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập qua hệ sở hữu theo các điều 247 đến 252 Bộ Luật dân sự… trong thời kỳ hôn nhân. Cò một vấn đề mà Điều 27 của Luật Hôn nhân gia đình còn đề cập tới, đó là chế độ của tài sản chung này. Theo điều luật này quy định thì “tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.
Vậy chế độ tài sản chung hợp nhất có nghĩa là như thế nào? Theo điều 217 Bộ Luật dân sự thì sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền chủ sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định khi ta chưa chia khối tài sản chung đó. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung hợp nhất đó. Điều này thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, khẳng định vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình là không phụ thuộc vào thu nhập của mỗi người mà cả hai cùng có quyền và trách nhiệm như nhau đối với gia đình. Đây cũng là tính nhân văn của chế độ pháp định về tài sản trong hôn nhân của Luật HN&GĐ Việt Nam.
Pháp luật các nước trên thế giới như: Pháp, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Thái Lan… cũng thừa nhận tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Thậm chí Điều 1401 Bộ luật dân sự của Pháp còn quy đinh “những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ” 4. Đây là sự khác biệt so với quy định của pháp luật Việt Nam, vì theo Điều 31 của Luật HN&GĐ Việt Nam thì đó không phải là tài sản chung. Tài sản riêng của vợ chồng là quy định xuất phát từ việc tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, cũng như đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của gia đình và lợi ích của cá nhân.
Theo quy định tại điều 32 Luật HN&GĐ hiện hành thì: “tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản của mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản chia riêng cho vợ chồng…; đồ dung tư trang” Tuy vợ và chồng gắn kết trong một mối quan hệ mật thiết về pháp lý và đạo đức, song họ vẫn là những cá thể độc lập của xã hội, nên vợ chồng cũng có quyền sở hữu riêng đối với tài sản của mình. Ta có thể thấy rằng tài sản riêng của vợ chồng thuộc sở hữu tư nhân. Theo Điều 211, Bộ luật dân sự 2005 thì: “sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình”. Việc quy định một cách rõ ràng như vậy là xuất phát từ các cơ sở: Cơ sở pháp lý: Hiến pháp năm 1992 tại Điều 58 đã ghi nhận quyền sở hữu của công dân: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” Cơ sở thực tiễn: Thứ nhất, trước khi kết hôn, cá nhân, bằng sức lao động và nghề nghiệp của mình có thể tạo ra khối tài sản, những tài sản này độc đối vợ hay chồng, không có sự “đóng góp” theo quan điểm của pháp luật HN&GĐ, nên 4 Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư Pháp, năm 2005, tr798 không thể coi là tài sản chung của cả hai.
Đây là sự khác biệt rất lớn của Luật HN&GĐ 2000 so với Luật HN&GĐ 1959 quy định những tài sản mà vợ chồng có được đều là tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt nguồn gốc và thời điểm xác lập.