chương I, Điều 2. Viên chức: Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [5] Khái niệm về cán bộ văn hóa thông tin cấp xã Cán bộ văn hóa thông tin là: Cán bộ chuyên trách về các lĩnh vực văn hoá thông tin là người trực tiếp tổ chức quản lý và hướng dẫn hoạt động văn hoá thông tin trên địa bàn cấp xã theo sự phân công chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và của ngành dọc cấp trên [3] 2. Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập - Nghị quyết số 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” - Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng (khoá VIII) về xây và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - Nghị định số 185/2007/NĐ-CP- quy định chức năng, quyền hạn nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ văn hóa, Thể thao, Du lịch - Nghị quyết 25-NQ/TW 2003 công tác tôn giáo - Nghị định 02/2013/ND-CP quy định về công tác gia đình - Thông tư số 02/2005/TTLT – BVHTT – BNV- hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân quản lí nhà nước về văn hóa – thông tin ở địa phương n 12 - Quyết định 48/2014/QĐ-UBND quản lý bảo vệ phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh - Nghị định 06/2016/ND-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình 2.2 Cơ sở thực tiễn 2. Vai trò của thông tin đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Thông tin là nguồn lực của sự phát triển xã hội Ngày nay, cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với quy mô lớn, nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội thì thông tin khoa học công nghệ lại tạo nên những ưu thế về kinh tế và chính trị cho mỗi nước. Tiềm lực khoa học và kỹ thuật là điều kiện để nâng cao năng suất, hiệu quả của nền sản xuất xã hội thì thông tin khoa học công nghệ được coi là yếu tố rất quan trọng của tiềm lực khoa học kỹ thuật. Nhờ có thông tin mà có sức cạnh tranh tạo ra sản phẩm có giá thành thấp nhưng trình độ tiên tiến hơn trong mỗi sản phẩm.
Thông tin là nền tảng phát triển khoa học công nghệ: để có sản phẩm mang tính cạnh tranh phải đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm để phát triển sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung. Mặt khác, thông tin là tiền đề để phát triển khoa học. Quy luật phát triển khoa học là tính kế thừa, thông tin, thành tựu trước đây truyền qua không gian, thời gian được loài người tích luỹ trở thành cái mới. Thông tin rút ngắn khoảng cách về thời gian và áp dụng cho cái mới.
Thông tin giúp khoa học phát triển, là nền tảng để phát triển công nghệ mới, đổi mới sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ. Thông tin là nguồn lực kinh tế, là nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia. Trước đây, mọi nền kinh tế đều dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc sở hữu, sử dụng và khai thác thông tin đã và đang đem lại hiệu quả về kinh tế rất lớn cho đời sống xã hội n 13 trong khi tài nguyên thiên nhiên có thể mở rộng phát triển không ngừng.
Khả năng mở rộng của thông tin thể hiện ở chính các thuộc tính của thông tin: - Thông tin thường lan truyền một cách tự nhiên - Thông tin không bao giờ cạn đi mà trái lại càng trở nên phong phú do đó được tái tạo và bổ sung thêm các nguồn thông tin mới - Thông tin được chia sẻ, nhưng không mất đi trong giao dịch * Thông tin trở thành cơ sở cho nhiều hoạt động xã hội Khả năng truyền với tốc độ cao và khả năng đem lại ưu thế cho người dùng tin, thông tin đã thực sự đi vào hoạt động tích cực cho các ngành, các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ sở giáo dục đào tạo, hoạt động xuất bản, tiếp thị và hoạt động chính trị. Mối quan tâm của xã hội đối với việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được mở rộng, đặc biệt trong việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên * Thông tin đã trở thành hàng hoá Trong nền kinh tế quốc dân đã hình thành một bộ phận mới đó là khu vực dịch vụ thông tin. Khu vực này ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng, đóng góp một tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân. Khối lượng, chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã trở thành tiêu chí đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước.
* Thông tin trong hoạt động kinh tế và sản xuất Thông tin là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh tế và sản xuất bởi: - Nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi liên tục - Khuynh hướng thị trường ngày càng mở rộng - Các vật liệu sản xuất mới đang xuất hiện - Các thiết bị mới với khả năng kỹ thuật cao thay đổi liên tục - Các công nghệ mới được triển khai áp dụng thường xuyên. n 14 * Thông tin giúp cho con người đổi mới, hoàn thiện các quy trình và phương pháp sản xuất hiện hành để phát triển kinh tế, nâng cao sức sản xuất Từ giữa thế kỷ XX, nền sản xuất công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ, nhu cầu thông tin và xử lý thông tin mới nảy sinh nhanh chóng. Sản xuất đòi hỏi thông tin: nhu cầu, giá cả và kỹ thuật đáp ứng kịp thời, do đó vai trò của thông tin ngày càng quan trọng. * Thông tin trong sự phát triển của khoa học Vai trò của thông tin thể hiện trong chính quy luật nội tại của khoa học - là tính kế thừa và tính quốc tế của nó.
Một phát minh khoa học là sản phẩm lao động của nhiều người, nhiều thế hệ chứ không phải một cá nhân nào đó trong một thời điểm nhất định nào đó. Issac Newton đã nói: “Nếu tôi có nhìn xa hơn một người khác một phần nào đó là do tôi đứng trên vai những người khổng lồ”. Tính kế thừa là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Thế hệ sau chọn lọc, hệ thống hoá thành quả của người đi trước, phát triển ra nhiều quy luật mới.
Quy luật mới này sản phẩm khoa học, cũng là thông tin khoa học mới. Hoạt động nghiên cứu khoa học là loại hoạt động đặc thù của con người nhằm thu hút nhiều thông tin khoa học mới trên cơ sở những thông tin mà xã hội loài người đã tích luỹ được. Hoạt động nghiên cứu khoa học còn là hệ thống có sự đầu tư vật chất và tiếp nhận thông tin để tạo ra những thông tin mới. Thiếu thông tin là nguyên nhân dẫn đến yếu kém về khoa học kỹ thuật của cả nước.
* Thông tin trong phát triển giáo dục Trong thiết chế của xã hội người ta cho rằng giáo dục là hoạt động xã hội nhằm thực hiện chức năng chuyển giao thông tin giữa các thế hệ. Do đó, giáo dục là nhân tố hàng đầu của sự phát triển. Nguồn thông tin trước hết là những kho tài liệu, các hoạt động khai thác và phát triển tri thức của các tri n 15 thức, thông tin thư viện và các hoạt động giảng dạy, học tập, tự đào tạo có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục truyền tải tri thức, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người. Thuộc tính cơ bản của thông tin là độc lập và bất định và ngẫu nhiên nó cũng phản ánh cái xác định và trật tự trong các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng.
Vì vậy, thông tin đúng đắn và chính xác đem lại trật tự và sự ổn định của tổ chức giáo dục và đời sống cộng đồng. * Thông tin đối với sự phát triển của quản lý Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, nhằm đạt được mục đích của nhà quản lý. Quản lý là hoạt động tương tác liên kết của con người với môi trường xung quanh nhằm đạt được mục tiêu trên cơ sở sử dụng tài nguyên: con người, tri thức, kinh phí, vật chất, năng lượng và không gian, thời gian. Đây chính là nguồn nhân lực, vật lực, trí lực.
Chính vì vậy, trong quản lý thông tin là yếu tố quan trọng nhất mà thiếu nó thì không thể có bất kỳ một hệ thống quản lý nào trong hệ thống tổ chức của xã hội. Do vậy, nếu thông tin chính xác, tốt, cập nhật chắc chắn nhà quản lý sẽ đưa ra quyết định sáng suốt và ngược lại Thông tin có một vai trò quan trọng trong phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế-xã hội nói riêng vì vậy làm tốt công tác thông tin tuyên truyền sẽ góp phần vào sự thành công chung. Những tấm gương điển hình trong trong công tác tuyên truyền hiệu quả * Hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục, pháp luật tại Tuyên Quang Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”. nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân.
Mục đích của nhiệm vụ tuyên truyền, PBGDPL là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, n 16 cán bộ, công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã đặc biệt coi trọng công tác giáo dục pháp luật, ngay từ Đại hội VI Đảng ta đã nhấn mạnh: “phải coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật. Đưa việc giáo dục pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các đoàn thể nhân dân.