Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TUÝ 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm công tác xã hội Có nhiều khái niệm về công tác xã hội được đưa ra ở các góc độ khác nhau. Có quan niệm cho rằng, công tác xã hội là một dạng trợ giúp giống nhau như việc đưa ra bàn tay giúp đỡ cho những người nghèo khó, cá nhân, gia đình có khó khăn về kinh tế, về tinh thần, về quan hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục, công tác xã hội giúp cộng đồng tiếp cận với cá dịch vụ để đảm bảo nhu cầu và đảm bảo an sinh xã hội (A.
Từ diển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi "công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu qủa của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội". Tại Đại hội Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế tại Canada năm 2004, công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào qua trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã hội giúp cho con người phát triển hài hoà và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân [15]. Philippines - một nước nằm trong khu vực châu Á, tuy còn những khác biệt vè văn hoá so với các nước phương Tây nhưng các chuyên gia công tác xã hội Philippines cũng có những quan điểm tương đồng trong nhìn nhận về công tác xã hội. Họ cho rằng: công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã 16 hội và điều chính hoà hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có một xã hội tốt đẹp.
Điều này cũng được ghi nhận trong luật pháp của Philippines. Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người với môi trường có hiệu quả. Hoạt động này gồm ba nhóm: phục hội năng lực bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội [20]. Mỗi cá nhân đều có những chức năng và vai trò khác nhau trong các quan hệ xã hội khác nhau.
Ví dụ, một người vừa có vai trò là người con, người cha, hoặc người chồng trong gia đình. Người đó cũng đảm nhiệm vai trò là người nhân viên hay người lãnh đạo tại công sở. Một cá nhân vừa có vai trò là người dân, những cũng có vai trò là người quản lý tại hệ thống xã hội trong quốc gia mà họ sinh sống. Khi gặp phải khó khăn trong cuộc sống họ có thể không thực hiện tốt được chức năng và vai trò họ đang đảm nhiệm.
Khó khăn đó có thể mang tính chủ quan bởi xuất phát từ bản thân cá nhân họ, cũng có thể tính chủ quan bởi xuất phát từ bản thân cá nhân họ, cũng có thể mang tính khách quan bởi xuất phát từ phía môi trường xã hội. Định nghĩa về công tác xã hội Việt Nam đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích từ những khía cạch khác nhau: Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng để giải quyết vấn đề. Công tác xã hội theo đuổi mục tiêu phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. Theo quan điểm của bà, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi nhân viên công tác xã hội luon làm việc trực tiếp với các đối tượng, với nhóm người cụ thể.
Tuy nhiên bà cho rằng, công tác xã hội không phải là hướng tới giải 17 quyết mọi vấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của mọi người. Thực hành công tác xã hội được diễn ra ở những lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyểt các vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình, hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể nhằm đêm lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cộng đồng xã hội. Công tác xã hội tại Việt Nam cũng được xem là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội, nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vữ cũng cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tơi con người để thoả mãn những nhu cầu căn bản, mặt khách góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình.
Những phân tích trên cho thấy, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau công tác xã hội, song còn tồn tại một số điểm chung sau đây: Công tác xã hội là: một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này. Đối tượng tác động của công tác xã hôi là: cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, người già, người khuyết tật., những người trong hoàn cảnh khoá khăn trên khó khăn hoà nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm. Hướng trọng tâm của công tác xã hội là: hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chắc năng xã hội, tạo những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hoà nhập xã hội. Một mặt công tác xã hội giúp cá nhân tăng cường năng lực để hoà nhập xã hội, mặt khác công tác xã hội thúc đẩy 18 các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình tiếp cận được chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản.
Vấn đề cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của công tác xã hội là: những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khoẻ, tâm thần, thiếu việc làm, không được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm. Vấn đề của họ cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môi trường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhân gia đình hay cộng đồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Bên trên là những phân tích khác nhau về khái niệm CTXH, nhưng trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đinh và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [15. Khái niệm ma túy Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ma tuý, những trong nghiên cứu đề tài này tác giả đã tìm hiểu và phân tích một số các khái niệm như sau: Ma tuý là từ Hán Việt, với nghĩa: “ma” là tê mê, “túy” là say sưa.
Như vậy, ma túy là chất đưa đến sự say sưa, mê mẩn. Đây cũng là từ tiếng Việt dùng để dịch chữ nước ngoài dùng để chỉ các chất gây nghiện thuộc loại nguy hiểm nhất: thuốc phiện, morphine, heroin, cocain, cần sa và một số thuốc tổng hợp có tác dụng tương tự morphine được sử dụng trong điều trị y tế. Như vậy, có thể gọi nôm na: ma túy là chất đưa đến sự say sưa và mê mẫn, hay nói cách 19 khác: ma túy là chất gây nghiện. Hiện có nhiều loại định nghĩa khác nhau về ma tuý: Dưới góc nhìn khoa học: Ma túy là các chất có khả năng tác động lên hệ thần kinh trung ương, có tác dụng giảm đau, gây cảm giác hưng phấn, dễ chịu; dùng nhiều lần sẽ đưa đến tình trạng lệ thuộc vào ma túy Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là “Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng” Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoá giáo dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể”.
Tổ chức Y tế Thế giới (1982) đã phát triển định nghĩa sau: “Ma tuý theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”. Trong cách hiểu đơn giản, điều đó có nghĩa là mọi vật chất khi đưa vào trong cơ thể người sẽ thay đổi chức năng sinh lý học hoặc tâm lý học loại trừ thực phẩm, nước và ôxy. Bộ luật Hình sự Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ 1/6/2000 quy định về ma tuý như sau: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất ma tuý khác ở thể lỏng hay thể rắn [13].