Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2: Hoạt động hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập dựa vào cộng đồng tại địa bàn xã Đốc Tín và Hương Sơn – huyện Mỹ Đức – Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp hỗ trợ người sau nghiện ma túy tái hòa nhập dựa vào cộng đồng. NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Các khái niệm công cụ.
Nghiện ma túy là hiện tượng bị phụ thuộc cả thực thể và tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân của người nghiện ma túy có hại cho cá nhân và xã hội. Người sau cai nghiện: Là người nghiện ma túy đã thực hiện xong quy trình cai nghiện ma túy theo quy định tại cơ sở cai nghiện ma túy để tái hòa nhập cộng đồng và làm việc. Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định: người sau cai nghiện ma túy là người đã hoàn thành xong thời gian cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú hoặc đã hoàn thành xong thời gian cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm. Hòa nhập cộng đồng Đề cập đến sự hòa nhập cộng đồng của con người vì lý do nhất định họ bị tách ra khỏi môi trường xã hội của nó và sau đó được trả lại xã hội.
Sau đó được trả lại với xã hội. Khái niệm này đề cập đến một quá trình thích ứng tương đối không đơn giản của cá nhân với môi trường xã hội hay những thành kiến của xã hội đối với những người đang tái hòa nhập trở lại với cuộc sống xã hội. Công tác xã hội Theo Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp 16 nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, nhằm tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề. Nhân viên Công tác xã hội Nhân viên xã hội (Social Workers) là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội mà hành động của họ nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng. Mục tiêu của công tác xã hội là giúp các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng yếu thế, thiệt thòi, không đảm bảo được một hay một số chức năng xã hội có thể nhận thức, giải quyết “vấn đề” của mình và vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập với cộng đồng góp phần ổn định, thúc đẩy xã hội phát triển.
Về mặt bản chất, Công tác xã hội cố gắng giúp các thân chủ của mình mạnh lên để có thể tự giúp mình. Các lý thuyết áp dụng vào đề tài Lý thuyết hệ thống sinh thái Hệ thống sinh thái là một trong những lý thuyết quan trọng được vấn dụng trong công tác xã hội. Khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ không thể thiếu được lý thuyết hệ thống sinh thái bởi vì nhân viên công tác xã hội chỉ cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ họ có thể thiếp cận và tham gia vào các hệ thống. Con người phụ thuộc vào môi trường trong quá trình tìm cách đáp ứng nhu cầu của chính mình, phát triển kỹ năng và kiến thức cho bản thân.
Mối quan hệ giữa con người và môi trường có tính tương tác qua lại đa chiều. 17 Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, chính sách, các cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân. Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi trường. Lý thuyết hệ thống xem mỗi một cá nhân con người được cấu thành nên từ các tiểu hệ thống: sinh học, tâm lý - xã hội.
Công tác xã hội khi tiếp cận với cá nhân cần đặt cá nhân đó dưới góc nhìn hệ thống. Lý thuyết sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống với định nghĩa ba cấp độ hệ thống: cấp vi mô, cấp trung mô, cấp vĩ mô. Hệ thống sinh thái với mỗi cá nhân là không cố định, nó luôn biến đổi. Vì vậy khi nhân viên công tác xã hội tiếp cận thân chủ cần đặt thân chủ vào hệ thống – sinh thái hiện tại mà họ đang tồn tại và tìm ra những yếu tố tác động.
Từ đó, xem hệ thống nào tác động tới cá nhân, hệ thống nào cần phục hồi, cần thiết lập lại. Cả hệ thống lý thuyết hệ thống và sinh thái đều hỗ trợ rất lớn cho những người làm công tác xã hội trong mọi lĩnh vực, nó cung cấp cho nhân viên công tác xã hội khuôn khổ để phân tích sự tương tác luôn thay đổi và luôn tác động lên con người. Trên cơ sở đó, đòi hỏi nhân viên công tác xã hội khi xem xét thân chủ, phải xem xét thân chủ như một hệ thống có mối liên hệ tổng hợp với các hệ thống khác lớn hơn như bối cảnh, môi trường gia đình, cộng đồng…chứ không được xem họ như các yếu tố tách biệt, tự thân, vận hành một mình. Vì vậy khi phân tích, nhận diện về thân chủ cần đặt thân chủ trong hệ thống sinh thái môi trường, gia đình, cộng đồng… để hiểu rõ về các mối quan hệ cũng như các vấn đề của họ.
Bên cạnh đó, đặt thân chủ trong hệ thống môi trường cũng là để tìm ra cấp độ can thiệp. Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến cá nhân trong mối quan hệ với các chủ thể khác nhau trong xã hội. Trong đó đặc biệt mô tả đến mối liên hệ có sự tác động đến thân chủ. Đại diện cho những người theo thuyết hệ 18 thống là Hasson, Macoslee, Siporin,…Trong đó 2 tác phẩm nổi tiếng về ứng dụng những quan hệ về hệ thống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus, Minahan.( Nguồn: Lý thuyết công tác xã hội – Phạm Huy Dũng) Ứng dụng: Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những hệ thống đa dạng: hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội… Đây là mối liên hệ giữa người sau cai nghiện với gia đình, bạn bè và cộng đồng xã hội… Đây là những mối quan hệ đặc biệt quan trọng trong quá trình hỗ trợ người sau cai nghiện dễ dàng hòa nhập cộng đồng.
Thuyết nhu cầu Maslow. Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình. Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang. Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu vật chất, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu về tôn trọng và tự trọng.
Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân. Ứng dụng: Người sau cai nghiện cũng có những nhu cầu ăn, mặc, ở như những người bình thường, họ cũng muốn xã hội thừa nhận, muốn mọi người trong cộng đồng yêu thương. Họ cũng mong muốn được mọi người tôn trọng mình, không phân biệt kỳ thị, đối xử, và mong muốn được tạo điều kiện phát triển toàn diện. Bên cạnh đó, họ còn có mong muốn hỗ trợ về mặt kinh tế để từ đó có vốn để làm lại từ đầu.
Làm lại những gì mà trước đây khi còn nghiện ngập họ đã đánh mất cơ hội của chính mình. Như vậy, những nhu cầu trên hoàn toàn chính đáng, hỗ trợ toàn diện cho người sau cai nghiện sẽ giúp họ tự chủ về kinh tế, họ có thể nuôi sống chính bản thân mình, tái hòa nhập cộng đồng được thể hiện và làm việc với năng lực của chính mình. Từ đó họ có điều kiện nâng cao khả năng và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Phòng ngừa việc tái nghiện trở lại.
19 Lý thuyết trị liệu nhận thức – thay đổi hành vi Giả thuyết cơ bản của lý thuyết trị liệu hành vi cho rằng những hành vi tập nhiễm có được qua quá trình học tập và nó có thể thay đổi, điều chỉnh qua học tập có điều kiện. Trị liệu hành vi tập trung chú ý tới việc thay đổi hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động. Ứng dụng: Lý thuyết trị liệu nhận thức hành vi giải thích về niềm tin sai lệch có nghĩa là không phải việc nghiện ma túy làm cho người ta hỏng, mà là suy nghĩ của họ cho rằng nghiện là hỏng dẫn đến họ tự cho rằng bản thân mình nghiện là hỏng. Áp dụng lý thuyết trị liệu nhận thức với đối tượng người sau cai nghiện trong việc trợ giúp thân chủ hiểu ra được niềm tin sai lệch đó và họ tự điều chỉnh bản thân tìm việc làm, giúp thân chủ tự tin vào chính mình, từ bỏ những mặc cảm, tự ti để sống và làm việc, nâng cao năng lực của chính bản thân mình.
Nhận thức được những việc tốt, việc xấu và tìm thấy môi trường phù hợp để tránh xa ma túy. Qua đó để thấy rằng khi người sau cai nghiện có được sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội thì bản thân họ có sự thay đổi gì trong nhận thức. Các kỹ năng vận dụng Kỹ năng vãng gia Vãng gia là việc tác giả đến thăm gia đình hoặc nơi thân chủ đang sinh sống, cư trú để thể hiện sự quan tâm của mình đối với thân chủ cũng như hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sống của thân chủ.