CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ - AN NINH ASEAN 1. Cơ sở lý luận ASEAN là kết quả của quá trình khu vực hóa và là biểu trưng của chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á trong những thập kỷ đầu của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Khu vực hoá được hiểu là tiến trình hình thành các nhóm, hiệp hội giữa các quốc gia trên cơ sở gần gũi về địa lý.
Tiến trình này đòi hỏi các đơn vị cấu thành (các quốc gia) có mức độ hợp tác cao và hình thành các cơ chế nhất định để thúc đẩy sự phối hợp trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh hoặc xã hội (Đặng Cẩm Tú, 2021). Tác giả Joseph Nye (1968) định nghĩa khu vực liên quốc gia (quốc tế) là “một số lượng nhất định các quốc gia gắn bó với nhau bởi quan hệ về địa lý và mức độ phụ thuộc lẫn nhau”. Trên cơ sở đó, tác giả Louis Fawcett (1995) định nghĩa chủ nghĩa khu vực là “sự hình thành các nhóm liên quốc gia trên cơ sở đặc trưng của các khu vực khác nhau”. Ở đây, chủ nghĩa khu vực được mô tả như một tiến trình hình thành những tổ chức liên chính phủ trong một khu vực địa lý có sự đa dạng về số lượng thành viên.
Trong một nghiên cứu về quan hệ giữa Liên Xô trước đây và ASEAN, tác giả Bilveer Singh (1989) định nghĩa tổ chức khu vực “là một nhóm có số lượng nhất định các quốc gia chính thức bị ràng buộc bởi một tập hợp các mục tiêu chung, bất kể hoàn cảnh địa lý, mối ràng buộc về truyền thống văn hóa, tư tưởng, kinh tế hay quốc phòng và được thiết lập bởi các hiệp định liên chính phủ”. Theo đó, dù có thể được nhóm lại theo các chức năng về chính trị, kinh tế, kỹ thuật hay quân sự, các tổ chức ít khi tự giới hạn mình vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể (Alagappa Muthiah, 1993). Hợp tác giữa nhóm quốc gia ở cấp độ khu vực là nhân tố cốt lõi thúc đẩy sự phát triển của tiến trình khu vực hóa và chủ nghĩa khu vực. Về khái niệm, hợp tác được coi là quá trình phối hợp chính sách, trong đó các nước vì lợi ích của mình mà điều chỉnh hành vi thuận theo lợi ích của nước khác và đáp ứng nhu cầu của các 15 nước khác trong một số lĩnh vực quan hệ (Đặng Cẩm Tú, 2021).
Điều này có nghĩa là, hợp tác được hình thành khi các chủ thể điều chỉnh các chính sách và hành vi của họ để đi đến phối hợp hành động trên một số vấn đề hay lĩnh vực với các chủ thể khác (Robert Keohane, 1984). Hợp tác không phủ nhận sự tồn tại của khác biệt và xung đột giữa các nước. Trong nhiều trường hợp, nhu cầu hợp tác nảy sinh từ chính: khác biệt lợi ích và khả năng xung đột tiềm tàng. Keohane cho rằng “nếu thiếu vắng bóng ma xung đột thì các quốc gia không cần phải hợp tác”.
Các lý thuyết về quan hệ quốc tế đưa ra những cách tiếp cận khác nhau về việc lý giải nguồn gốc của hợp tác quốc tế giữa các quốc gia. Chủ nghĩa hiện thực coi quốc gia là chủ thể chính trong hệ thống quốc tế. Hệ thống quốc tế là được xem là nơi các quốc gia thường cạnh tranh để tồn tại hoặc vì lợi ích vị kỷ và hiếm khi tin tưởng nhau. Theo các nhà hiện thực, khó có thể có hợp tác giữa các quốc gia và ngay cả khi điều đó xảy ra thì cũng khó duy trì hợp tác được lâu dài do các quốc gia luôn phải cân nhắc lợi ích tương đối và lo ngại về gian lận.
Bản chất của hợp tác dưới lăng kính hiện thực chính là sự phân chia quyền lực trong hệ thống quốc tế (Nguyễn Hồng Sơn, 2022). An ninh quốc gia theo chủ nghĩa hiện thực là động lực dẫn đến sự hợp tác giữa các nước với nhau. Nói một cách khác, nguy cơ đe dọa an ninh khiến các nước xác định rõ hơn bạn và thù để từ đó hình thành mối quan hệ xung đột và hợp tác với các đối tượng cụ thể. Như vậy, để trả lời câu hỏi tại sao các nước hợp tác với nhau, những người thuộc trường phái hiện thực cho rằng, khi xuất hiện nguy cơ đối với an ninh quốc gia, các nước phải tìm cách hoá giải nguy cơ đó và từ đó hợp tác ra đời (Morgenthau, 1985).
Bên cạnh đó, chủ nghĩa tự do có cái nhìn lạc quan hơn về hợp tác giữa các quốc gia. Các nhánh chính trong trường phái tự do có cách giải thích khác nhau về lý do các quốc gia hợp tác. Nhánh kinh tế cho rằng sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng sẽ kiềm chế các quốc gia sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đơn giản bởi vì chiến tranh sẽ đe doạ đến sự thịnh vượng của mỗi bên. Nhánh lý thuyết về dân chủ xem việc truyền bá các giá trị dân chủ là chìa khoá mang lại hoà bình thế giới, dựa trên lập luận rằng các nền dân chủ ít đánh nhau hơn các thể chế chính trị khác.
16 Nhánh thể chế cho rằng lừa dối là trở ngại chính ngăn cản các quốc gia hợp tác, và các thể chế là chìa khoá giúp giải quyết vấn đề này, thông qua việc tạo ra các luật lệ ràng buộc các quốc gia thành viên (Nguyễn Hồng Sơn, 2022). Theo thuyết thể chế tự do, các thể chế hay tổ chức khu vực là phương án tốt nhất giúp các quốc gia đạt được hợp tác, và sự ra đời của các thể chế hay tổ chức cũng phản ánh việc các quốc gia không thể tồn tại riêng lẻ mà phải phụ thuộc lẫn nhau trong sự vận động của nền chính trị và kinh tế quốc tế. Các quốc gia có xu hướng hợp tác với nhau trong khuôn khổ thể chế, vì các thể chế quốc tế có vai trò hay tác dụng điều tiết quan hệ giữa họ thông qua việc cung cấp và thực hiện các phương thức để khuyến khích sự tuân thủ cam kết của các thành viên, tăng cường thông tin về hành vi của các nước liên quan, giảm chi phí giao dịch từ đó làm giảm mối lo ngại, nghi kỵ, giúp củng cố lòng tin chính trị giữa các quốc gia, mở ra các diễn đàn giúp thúc đẩy hợp tác để cùng đạt được lợi ích chung, đồng thời giúp các quốc gia có thể giám sát các thỏa thuận cam kết của các đối tác khác (Jackson, R. Trong khi đó, chủ nghĩa kiến tạo nhấn mạnh đến ảnh hưởng của ý tưởng và bối cảnh xã hội đến hành vi của các quốc gia trong hệ thống quốc tế.
Lý thuyết này xem lợi ích và bản sắc nhà nước là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử, tập trung vào các diễn biến xã hội hình thành niềm tin và lợi ích quốc gia, đồng thời tạo ra các chuẩn mực xã hội được chấp nhận rộng rãi. Chủ nghĩa kiến tạo cho rằng bản sắc chung giữa các quốc gia có thể sẽ tạo ra những điều kiện để hợp tác (Nguyễn Hồng Sơn, 2022). Theo chủ nghĩa kiến tạo thì các quốc gia dễ hợp tác với nhau khi giữa họ tồn tại bản sắc chung, trong đó bản sắc là một quá trình xây dựng mang tính chủ động mà các quốc gia tìm và chọn lựa cho riêng mình. Các quốc gia lấy bản sắc làm tiêu chí cho việc xây dựng quan hệ hợp tác (hoặc đấu tranh) của họ, vì bản thân quá trình chọn lựa bản sắc cũng được kết hợp với yếu tố lợi ích: bản sắc nào không phù hợp với lợi ích của các nước thì hầu như không nằm trong sự lựa chọn (Checkel, J.
Các nhà chủ nghĩa kiến tạo cũng cho rằng các tổ chức quốc tế thành công là nơi các nước có cùng bản sắc tập hợp lại với nhau trong một dạng quan hệ quốc tế phục vụ những lợi ích cụ thể. Theo đó, hợp tác 17 quốc tế muốn thành công cần có chung bản sắc, chung lợi ích (thường là lợi ích an ninh và chiến lược), và chung những điểm tương đồng về văn hoá và lịch sử. Bản sắc được xem là có tác dụng hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng vô chính phủ. Những điểm tương đồng về bản sắc càng nhiều thì khả năng hợp tác và duy trì hợp tác càng cao (nếu kết hợp thêm với tương đồng lợi ích).
Như vậy, liên minh dựa trên bản sắc mạnh và hình thành trong phạm vi khu vực thường có cơ hội thành công lớn hơn. Chủ nghĩa kiến tạo được xem là một trường phái đặc biệt thích hợp khi nghiên cứu các tổ chức khu vực như Cộng đồng ASEAN, những tổ chức không nhất thiết phải tương thích với lời giải thích của chủ nghĩa hiện thực hoặc chủ nghĩa tự do và các biện pháp xây dựng lòng tin, không hoàn toàn chia sẻ với quan niệm cân bằng quyền lực và phòng thủ của chủ nghĩa hiện thực. Sự hợp tác lỏng lẻo, ít thể chế hóa giữa các đối tác của Cộng đồng ASEAN trong hơn 50 năm qua cũng cho thấy quan điểm phụ thuộc và hợp tác của chủ nghĩa tự do cũng không đặc biệt phù hợp với Cộng đồng ASEAN. Như Peou đã lập luận, chủ nghĩa kiến tạo gần với chân lý hơn lý thuyết cân bằng quyền lực của chủ nghĩa hiện thực.
Theo nghĩa chủ nghĩa kiến tạo tìm cách giải thích an ninh khu vực bằng cách xem xét một loạt các yếu tố như ý tưởng, các yếu tố còn đang định hình và cả các yếu tố vật chất có vẻ phù hợp hơn (Sorpong Peou, 2002). Mặc dù vậy, chủ nghĩa kiến tạo cũng bị phê phán. Michel Leifer, một nhà hiện thực có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu Đông Nam Á cho rằng các thể chế như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum, ARF) còn lâu mới được như sự miêu tả dựa vào “phương thức ASEAN”của chủ nghĩa kiến tạo, mà mới chỉ là sự mặc cả quốc tế có “mẫu số chung thấp nhất”, một cấu trúc “hạn chế” và “tối thiểu” chỉ dừng lại ở các biện pháp xây dựng lòng tin (Michael Leifer, 1998). Tóm lại, APSC là một đối tượng đáng để nghiên cứu vì tầm quan trọng của nó.
Tuy nhiên, đây là khu vực rất phức tạp, năng động, nhiều tiềm năng và vì vậy khó dự báo, nhưng cũng rất thú vị (Phạm Quang Minh, 2015). Phương pháp lịch sử được sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên góc nhìn của khoa học lịch sử thông qua các sự kiện hợp tác chính trị và an ninh giữa Việt Nam - ASEAN và cung cấp một bức tranh tổng thể về mối quan hệ này.