Viện Kiểm Sát Với Vai Trò Bảo Vệ Quyền Con Người Trong Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ viện kiểm sát phân tích vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự tại Việt Nam, nêu rõ thách thức và giải pháp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

2014

133
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1.1. Khái niệm quyền con người và vấn đề bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc tế

1.1.2. Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyền con người

1.1.3. Khái niệm quyền con người

1.1.4. Khái niệm bảo vệ quyền con người

1.1.5. Khái quát pháp luật quốc tế về quyền con người và bảo vệ quyền con người

1.1.6. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong một số điều ước quốc tế

1.1.7. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước

1.2. Khái quát về vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1.2.1. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp

1.2.2. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

1.2.3. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Hình sự

1.2.4. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Thi hành án hình sự

2. VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM CỦA VIỆN KIỂM SÁT

2.1. Khái quát về Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự qua các giai đoạn lịch sử trước năm 2003

2.1.1. Giai đoạn từ 1960 đến trước khi BLTTHS 1988 ra đời

2.1.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác

2.1.3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân

2.1.4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật

2.1.5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giam, tạm giữ và cải tạo

2.2. Giai đoạn từ 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003

2.2.1. Việc kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

2.2.2. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự

2.2.3. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam

2.2.4. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành bản án, quyết định của Toà án

2.3. Bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân trong BLTTHS 2003

2.3.1. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố và điều tra vụ án hình sự của VKSND

2.3.2. Bảo vệ quyền con người qua các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự

2.3.3. Bảo vệ quyền con người thông qua các hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự

3. THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

3.1. Thực tiễn bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân trong các giai đoạn tố tụng hình sự

3.1.1. Trong giai đoạn khởi tố và điều tra

3.1.2. Trong giai đoạn truy tố và xét xử các vụ án hình sự

3.1.3. Trong giai đoạn thi hành án hình sự

3.1.4. Đánh giá chung (hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập)

3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát

3.3. Để khắc phục những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn trên, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cần tiến hành thực hiện đồng bộ các giải pháp sau

3.3.1. Sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

3.3.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

3.3.3. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con người của VKSND

3.3.4. Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát

3.3.5. Đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm sát

3.3.6. Tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tố tụng hình sự

3.3.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát

3.3.8. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ lương, phụ cấp ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có cán bộ Kiểm sát

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Tài liệu "Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Bảo Vệ Quyền Con Người Trong Tố Tụng Hình Sự Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của Viện Kiểm Sát trong việc bảo vệ quyền con người trong quá trình tố tụng hình sự tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh rằng Viện Kiểm Sát không chỉ là cơ quan thực hiện quyền công tố mà còn có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bị cáo, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xét xử.

Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ tài liệu này, bao gồm cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó nâng cao hiểu biết về quyền con người trong hệ thống tư pháp hình sự. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của viện kiểm sát đối với việc bảo vệ quyền của bị cáo trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân huyện tứ kỳ tỉnh hải dương, nơi cung cấp cái nhìn cụ thể về vai trò của Viện Kiểm Sát trong bảo vệ quyền của bị cáo. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học các quyết định tố tụng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố sẽ cung cấp thông tin về các quyết định tố tụng và thực tiễn tại Hải Phòng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Viện Kiểm Sát trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA VIỆN KIỂM SÁT VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC [ Hà Nội - 2014 z ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA VIỆN KIỂM SÁT VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC [ Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.PHẠM MẠNH HÙNG Hà Nội - 2014 z LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA z MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa LỜI CAM ĐOAN .4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG.6 VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI . Khái niệm quyền con ngƣời và vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời trong hệ thống pháp luật quốc tế . Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyền con người . Khái niệm quyền con người . Khái niệm bảo vệ quyền con người . Khái quát pháp luật quốc tề về quyền con người và bảo vệ quyền con người . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong một số điều ước quốc tế . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước. Khái quát về vấn đề quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời trong hệ thống pháp luật Việt Nam . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Hình sự . Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Thi hành án hình sự .33 Có thể nói, thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn. Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên án với bị cáo tại phiên tòa, áp dụng mức và loại hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống. Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động nhằm mục đích làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội, mặt khác, góp phần răn đe, ngăn ngừa chung.35 Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị quy định quyền không bị tra tấn Điều 7: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó”. Công ước đặt ra những chuẩn mực cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước [3, tr.35 Những vấn đề này đã quy định một cách thống nhất và đồng bộ từ văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001 và 2013); cho đến các văn bản luật và dưới luật đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự. Đây chính là nền tảng pháp lý để ngăn chặn và trừng trị những hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục. Với tinh thần đó, một số quy định của Luật thi hành án hình sự z cũng đã thể hiện được được những quyền cơ bản được ghi nhận trong các công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, cụ thể như sau: .36 * Quy định để đảm bảo những người phải chấp hành án phạt tù được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người: .36 Quyền được đối xử nhân đạo, được tôn trọng nhân phẩm đã được thể hiện ở chính mục đích của hình phạt tù và thông qua chế độ chấp hành án. Người chấp hành án phạt tù tại các trại giam được pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản, như quyền tự do thân thể, quyền sống, vui chơi, giải trí, không bị tra tấn. Những quyền này được quy định cụ thể tại Luật Thi hành án hình sự năm 2010.36 Một trong các nguyên tắc thi hành án hình sự được đề ra trong Luật là “tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án” (Khoản 3 Điều 4). Bên cạnh đó, cần “kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ phạm tội, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án” (Khoản 4 Điều 4). Luật Thi hành án hình sự cũng nghiêm cấm “xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án” (Khoản 9 Điều 9). Luật Thi hành án hình sự đã dành riêng một chương quy định về thi hành án phạt tù và chế độ quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân (Chương III, từ Điều 21 đến Điều 53) [3, tr.36 Với tinh thần tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người, Luật Thi hành án hình sự đã quy định rất cụ thể việc phân khu giam giữ phạm nhân, quy định rõ những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng: phạm nhân nữ; phạm nhân là người chưa thành niên; phạm nhân là người nước ngoài; phạm nhân là người có bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm; phạm nhân có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án; phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế trại giam (Điều 27). Các chế độ liên quan thiết thực của phạm nhân như chê độ ăn, mặc, ở, chăm sóc sinh hoạt, y tế, học tập, học nghề, lao động, gặp, liên lạc, nhận quà của thân nhân… đều được quy định trong Luật này [3, tr.37 z * Về quy định dành riêng cho người chưa thành niên để đảm bảo việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ:.37 Xuất phát từ tinh thần nhân văn cao cả là nhằm giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội, tại Khoản 2 Điều 27 Luật Thi hành án hình sự quy định: .37 … Trong các khu giam giữ quy định tại Khoản 1 Điều này, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng: .37 a) Phạm nhân nữ; .37 b) Phạm nhân là người chưa thành niên;.37 Không chỉ được giam giữ riêng, Luật Thi hành án hình sự đã dành riêng một mục để quy định đối với các phạm nhân là người chưa thành niên với các điều kiện đối xử tốt hơn so với các phạm nhân đã thành niên (mục 3 Chương III). Chẳng hạn như chế độ ăn, mặc, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ và vui chơi giải trí, giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động. Phạm nhân là người chưa thành niên được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như phạm nhân là người thành niên và được tăng thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng; Phạm nhân là người chưa thành niên được lao động ở khu vực riêng và phù hợp với độ tuổi; không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.37 Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự cũng quy định rõ trách nhiệm của trại giam trong việc giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên về văn hoá, pháp luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, trình độ văn hoá, giới tính và sức khoẻ, chuẩn bị điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù (khoản 2 Điều 51) [3, tr.38 Bên cạnh quy định về quyền không bị tra tấn, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên liên quan đến nhóm quyền không bị nô lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng bức như sau: Một là, các quốc gia cần nghiêm cấm việc bắt giữ làm nô lệ bất cứ z người nào; chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm. Hai là, các quốc gia không được bắt buộc lao động cưỡng bức. Ba là, cần có những quy định về các trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức. Đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị nô lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng bức. Các nước thành viên Công ước, dựa trên những nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định tại Điều 8 Công ước [3, tr.38 Vấn đề này đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận, cụ thể hóa một cách thống nhất, đồng bộ từ Hiến pháp cho đến các Bộ luật, các luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ