Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Vai trò thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng hiện nay" do sinh viên Võ Phi Long (lớp 19SGC) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Huy Thành tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (năm 2023). Đề tài thuộc nhóm nghiên cứu lý luận chính trị - xã hội kết hợp khảo sát thực trạng giáo dục pháp luật tại cơ sở đào tạo sư phạm.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong tiến trình này, sinh viên sư phạm giữ vị trí đặc biệt bởi họ là những nhà giáo tương lai, đảm đương trực tiếp sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Nghề nghiệp đòi hỏi họ không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn phải có phẩm chất đạo đức, kỷ luật và ý thức chấp hành pháp luật nghiêm túc. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa đang làm nảy sinh lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức và gia tăng các vi phạm pháp luật trong một bộ phận giới trẻ. Tại thành phố Đà Nẵng, trước những biến đổi kinh tế - xã hội nhanh chóng, một bộ phận không nhỏ sinh viên Trường Đại học Sư phạm có biểu hiện dao động về thế giới quan, mơ hồ về chính trị, phai mờ lý tưởng xã hội chủ nghĩa và vi phạm nội quy, pháp luật, dễ bị lôi kéo bởi các thế lực thù địch. Do đó, việc trang bị thế giới quan duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin được xác định là tiền đề phương pháp luận nền tảng để định hướng nhận thức và xây dựng ý thức pháp luật đúng đắn cho sinh viên sư phạm.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là:

  • Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận về vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và phân tích thực trạng việc phát huy vai trò này, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng để xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng, ý thức pháp luật và phân tích ý thức pháp luật mà sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay cần xây dựng.
  2. Làm rõ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay.
  3. Phân tích thực trạng phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay.
  4. Đề xuất một số giải pháp về việc phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng để xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn không gian khảo sát tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng; thời gian nghiên cứu phản ánh thực trạng tại thời điểm khóa luận được hoàn thành (năm 2023); nội dung trọng tâm là mối quan hệ tác động giữa việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng với sự hình thành, củng cố ý thức pháp luật của người học sư phạm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước và các chủ trương giáo dục, pháp luật tại thành phố Đà Nẵng.

Khung khái niệm và lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Khái niệm thế giới quan và ba hình thức cơ bản trong lịch sử: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học (trong đó thế giới quan duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhất, khoa học và cách mạng).
  • Cấu trúc thế giới quan duy vật biện chứng gồm 3 bộ phận hợp thành: tri thức khoa học (nền tảng), niềm tin khoa học (động lực) và lý tưởng sống (định hướng).
  • Khái niệm ý thức pháp luật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của tồn tại xã hội nhưng có tính độc lập tương đối và mang tính giai cấp sâu sắc.
  • Cấu trúc ý thức pháp luật gồm 2 yếu tố cơ bản: tâm lý pháp luật (tình cảm, cảm xúc, tâm trạng tự phát đối với hiện tượng pháp lý) và hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức lý luận, quan điểm khoa học có hệ thống và tự giác).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: xem xét các hiện tượng ý thức pháp luật trong mối liên hệ phổ biến và sự vận động, phát triển gắn với điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ các tài liệu lý luận và báo cáo giáo dục để rút ra các luận điểm khái quát.
  • Phương pháp logic kết hợp lịch sử: theo dõi quá trình phát triển của các hình thái thế giới quan và ý thức pháp luật qua từng thời kỳ.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: từ những biểu hiện cụ thể trong học tập, sinh hoạt của sinh viên để khái quát hóa lên bình diện ý thức pháp luật học đường.
  • Phương pháp so sánh: đối chiếu giữa yêu cầu chuẩn mực của người giáo viên tương lai với thực trạng nhận thức của sinh viên.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng hỏi khảo sát thái độ, động cơ học tập các môn khoa học Mác – Lênin và việc vận dụng kiến thức pháp luật trong sinh viên trường.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin; các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam;
  • Các công trình nghiên cứu đi trước về thế giới quan khoa học và duy vật biện chứng (Bùi Đỉnh, 1988; Nguyễn Trọng Chuẩn, 1988; Trần Thanh Hà, 1993; Trần Phước, 1993; Đặng Văn Loạt, 1996; Nguyễn Văn Vinh, 2001; Trần Viết Quân, 2002);
  • Số liệu điều tra xã hội học thực tế từ sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng được thống kê tại Phụ lục 2 của khóa luận.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và 3 chương nội dung chính.

Chương 1: Một số lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng và ý thức pháp luật

Chương 1 thiết lập khung lý luận cơ bản với ba nội dung trọng tâm:

  1. Thế giới quan và thế giới quan duy vật biện chứng: Tác giả phân tích sự tiến hóa của thế giới quan từ thần thoại, tôn giáo đến triết học; làm rõ bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập trên cơ sở cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc. Thế giới quan duy vật biện chứng giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, khẳng định vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn. Ba yếu tố cấu thành thế giới quan duy vật biện chứng gồm: tri thức khoa học (nền tảng nhận thức), niềm tin khoa học (trạng thái tâm lý, động lực hành động) và lý tưởng cách mạng (chuẩn mực, đích đến định hướng hoạt động).
  2. Khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của ý thức pháp luật: Ý thức pháp luật được định nghĩa là tổng thể các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, thái độ, tình cảm và sự đánh giá của con người về tính hợp pháp, tính công bằng và vai trò của pháp luật. Khóa luận phân tích 4 đặc điểm nổi bật của ý thức pháp luật với tư cách là hình thái ý thức xã hội: thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội; có thể vượt trước tồn tại xã hội; có tính kế thừa; tác động trở lại tồn tại xã hội và tương tác qua lại với ý thức chính trị, đạo đức, tôn giáo. Đồng thời, ý thức pháp luật luôn mang tính giai cấp sâu sắc. Về cấu trúc, ý thức pháp luật bao gồm tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật; trong đó nhận thức đúng (hệ tư tưởng) định hướng tình cảm tốt (tâm lý), và tình cảm pháp lý tích cực thúc đẩy việc nghiên cứu nâng cao nhận thức.
  3. Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên: Xuất phát từ đặc thù sinh viên là nhóm xã hội chuẩn bị chuyển giao vào lực lượng lao động tri thức, có tâm sinh lý phát triển mạnh nhưng chưa tích lũy nhiều trải nghiệm thực tế, tác giả chỉ rõ 3 vai trò căn bản của thế giới quan duy vật biện chứng:
    • Góp phần xây dựng niềm tin khoa học và lý tưởng sống cao đẹp, giúp sinh viên kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không bị dao động trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
    • Góp phần hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện cả đức và tài, trau dồi phẩm chất nghề nghiệp sư phạm.
    • Góp phần định hướng đúng đắn về nhận thức, thái độ, hành vi pháp luật và lối sống văn hóa, giúp sinh viên tự giác biến các chuẩn mực pháp lý thành hành động thường nhật.

Chương 2: Thực trạng phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay và một số vấn đề đặt ra

Chương 2 trình bày thực trạng công tác giáo dục và mức độ tiếp nhận của sinh viên tại nhà trường qua hai bình diện:

1. Thực trạng phát huy vai trò:

  • Mặt tích cực: Nhà trường, Đảng ủy, Ban Giám hiệu và các tổ chức đoàn thể đã triển khai đồng bộ các tuần sinh hoạt công dân, chương trình giáo dục quốc phòng an ninh, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, giao lưu văn nghệ kỷ niệm ngày 9/1 (Ngày Học sinh - Sinh viên), 20/11, 22/12. Đa số sinh viên có hiểu biết cơ bản về pháp luật, nắm được tính bắt buộc chung của các quy tắc xử sự, có ý thức tôn trọng nội quy nhà trường và rèn luyện đạo đức nghề giáo.
  • Mặt hạn chế và yếu kém: Một bộ phận sinh viên vẫn xem nhẹ các môn khoa học Mác – Lênin, học đối phó để lấy điểm, thiếu tư duy phản biện. Nhận thức của sinh viên mới dừng lại ở mức cảm tính, nhìn nhận hiện tượng xã hội (như mê tín dị đoan, phân hóa giàu nghèo) một cách siêu hình, máy móc, quy cho số phận. Niềm tin chính trị và lý tưởng cách mạng của một số sinh viên có biểu hiện suy giảm, lối sống còn thiên về thực dụng cá nhân.

Kết quả điều tra xã hội học từ sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (ghi nhận tại Phụ lục 2 của khóa luận) phản ánh rõ nét hạn chế trong thái độ học tập:

Tiêu chí khảo sát (Phụ lục 2) Tỷ lệ phản hồi (%) Ý nghĩa thực tiễn phản ánh
Không vận dụng lý luận Mác – Lênin để phân tích pháp luật thực tiễn 30% Khoảng cách lớn giữa tiếp thu lý thuyết triết học và vận dụng vào đời sống pháp lý
Đánh giá giờ thảo luận chỉ mang tính hình thức, không hiệu quả 32% Bất cập về phương pháp tổ chức dạy học và tương tác trên lớp
Tự nhận không học gì trong giờ tự học 27% Ý thức tự giác, tự giáo dục của sinh viên còn yếu kém
  • Nguyên nhân: Về khách quan, do áp lực khối lượng kiến thức lớn, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, nặng về lối truyền thống "thầy giảng - trò chép", độc thoại một chiều; nội dung giáo trình còn ít gắn với các vấn đề mới của thực tiễn. Về chủ quan, bản thân nhiều sinh viên chưa xác định đúng động cơ học tập, thụ động, ỷ lại và bị chi phối bởi lối sống thực dụng từ bên ngoài xã hội.

2. Ba vấn đề mâu thuẫn lớn đặt ra:

  • Mâu thuẫn giữa việc giáo dục trong nhà trường với tác động tiêu cực của môi trường xã hội: Mặt trái kinh tế thị trường, các hiện tượng tiêu cực như lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, tình trạng dạy thêm - học thêm tiêu cực, chạy điểm làm xói mòn hình ảnh người thầy, tạo ra xung đột nhận thức với những lý tưởng được học trong nhà trường.
  • Bất cập trong xây dựng nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy: Giảng viên còn thiên về diễn giải các nguyên lý, quy luật trừu tượng, thiếu rèn luyện phương pháp luận thực tiễn và kỹ năng xử lý tình huống pháp luật cho sinh viên; đội ngũ giảng viên chịu áp lực giảng dạy lớn nên khó cá thể hóa phương pháp.
  • Mâu thuẫn giữa vai trò định hướng của nhà trường với năng lực tự giáo dục của sinh viên: Quá trình đào tạo không thể thành công nếu sinh viên không chủ động tiếp nhận; tình trạng sinh viên không chú ý nghe giảng trên lớp và hầu như không tự nghiên cứu ở nhà đối với các môn khoa học Mác – Lênin vẫn diễn ra phổ biến.

Chương 3: Một số giải pháp phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng để xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay

Trên cơ sở thực trạng và các bất cập đã chỉ ra, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp:

  1. Giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chính sách của Đảng, Nhà nước về pháp luật thông qua các hoạt động chính trị - xã hội – thực tiễn: Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; gắn giáo dục lý luận chính trị với các phong trào tình nguyện, sinh hoạt Đoàn – Hội, các diễn đàn pháp luật thực tế để sinh viên rèn luyện bản lĩnh chính trị.
  2. Tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và pháp luật: Nâng cao cả phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học và năng lực thực tiễn của đội ngũ giảng viên nhằm đảm bảo tính chuẩn mực sư phạm và sức thuyết phục trong từng bài giảng.
  3. Xây dựng nội dung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng: Giảm bớt thuyết trình một chiều, tăng cường đối thoại, thảo luận nhóm, đưa các tình huống pháp lý - đạo đức thực tế tại địa phương vào bài học nhằm rèn luyện tư duy biện chứng và phương pháp luận cho sinh viên.
  4. Tăng cường ý thức tự học, tự giáo dục rèn luyện, phát huy ý thức tự giác chấp hành pháp luật của sinh viên: Xây dựng kế hoạch tự học khoa học, phát huy vai trò tự quản của các chi đoàn, câu lạc bộ học thuật; nâng cao tinh thần tự rèn luyện nhân cách, danh dự người giáo viên tương lai để tự giác tuân thủ pháp luật và nội quy học đường.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể sau:

  • Kết quả nghiên cứu thực tế: Công trình đã tổng hợp và công bố số liệu điều tra tại Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, chỉ rõ các tỉ lệ đáng lưu ý về thái độ học tập môn lý luận chính trị và pháp luật (30% sinh viên không vận dụng lý luận vào phân tích pháp luật, 32% đánh giá giờ thảo luận chỉ là hình thức, 27% không tự học).
  • Giải pháp đề xuất: Khóa luận hệ thống hóa 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nhà trường, đội ngũ giảng viên, tổ chức Đoàn – Hội và bản thân người học, hướng đến chuyển hóa tri thức lý luận triết học thành niềm tin và chuẩn mực hành vi chấp hành pháp luật.
  • Đóng góp mới của tác giả: Theo phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu của chính tác giả, các đề tài trước đây chủ yếu tập trung vào việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ, đảng viên người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội hoặc đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện. Khóa luận này là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu khảo sát và giải quyết mối quan hệ giữa thế giới quan duy vật biện chứng với việc xây dựng ý thức pháp luật cho đối tượng sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng trong bối cảnh phát triển đô thị và hội nhập quốc tế hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn không gian khảo sát trong phạm vi một trường thành viên (Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng); dữ liệu khảo sát từ bảng hỏi (Phụ lục 2) chủ yếu đo lường động cơ và phương pháp học tập các môn lý luận Mác – Lênin, chưa phân tách sâu mức độ hiểu biết đối với từng ngành luật chuyên ngành cụ thể (như Luật Giáo dục, Luật Giao thông đường bộ, Luật An ninh mạng).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh giữa sinh viên khối ngành sư phạm khoa học tự nhiên và sư phạm khoa học xã hội; hoặc mở rộng khảo sát đối sánh liên trường trong toàn hệ thống Đại học Đà Nẵng để đánh giá toàn diện hơn về tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đô thị miền Trung tới ý thức pháp luật của người học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và giảng viên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học, Giáo dục Công dân: Tham khảo cấu trúc lý luận ở Chương 1 về sự kết nối giữa cấu trúc thế giới quan duy vật biện chứng (tri thức, niềm tin, lý tưởng) và cấu trúc ý thức pháp luật (tâm lý pháp luật, hệ tư tưởng pháp luật).
  • Bộ phận quản lý đào tạo, công tác sinh viên, Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên các trường đại học sư phạm: Vận dụng kết quả đánh giá thực trạng ở Chương 2 và các giải pháp ở Chương 3 để đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, tổ chức các diễn đàn ngoại khóa và quản lý nề nếp kỷ cương sinh viên.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về giáo dục đạo đức, pháp luật học đường: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp triết học Mác – Lênin với điều tra xã hội học thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định cấu trúc thế giới quan duy vật biện chứng gồm những yếu tố nào?
Tác giả xác định cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng gồm ba yếu tố cơ bản có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: tri thức khoa học (nền tảng cốt lõi, trong đó tri thức triết học Mác – Lênin giữ vai trò quyết định), niềm tin khoa học (trạng thái tâm lý ổn định, động lực thúc đẩy con người hành động theo tri thức đã tiếp thu) và lý tưởng cách mạng (chuẩn mực, mẫu mực cao đẹp dẫn dắt và định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn).

2. Ý thức pháp luật được phân chia thành những bộ phận cấu thành nào theo tác giả?
Ý thức pháp luật gồm hai bộ phận thiết yếu có mối quan hệ qua lại:

  • Tâm lý pháp luật: Tổng thể những cảm xúc, tâm trạng, tình cảm tự phát của con người đối với pháp luật (tin tưởng, tôn trọng hoặc coi thường), thường chịu tác động từ môi trường sống, gia đình và thói quen.
  • Hệ tư tưởng pháp luật: Hệ thống các quan điểm, học thuyết, khái niệm khoa học về pháp luật được hình thành một cách tự giác thông qua học tập và nghiên cứu lý luận.

3. Khảo sát thực tế tại Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đưa ra những số liệu nào về hạn chế của sinh viên?
Theo kết quả điều tra được tác giả nêu tại Chương 2 (dẫn từ Phụ lục 2), có 30% sinh viên cho rằng họ hầu như không vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích các vấn đề pháp luật thực tiễn; 32% đánh giá các giờ thảo luận chỉ mang tính hình thức, không hiệu quả; và 27% tự nhận không học gì trong giờ tự học.

4. Ba mâu thuẫn lớn trong công tác giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và ý thức pháp luật tại trường là gì?
Khóa luận chỉ ra 3 mâu thuẫn chính:

  • Mâu thuẫn giữa giáo dục lý tưởng trong nhà trường với tác động tiêu cực, thực dụng của mặt trái cơ chế thị trường bên ngoài xã hội;
  • Bất cập giữa yêu cầu đổi mới giáo dục với nội dung chương trình còn nặng lý thuyết trừu tượng và phương pháp giảng dạy truyền thống, một chiều của giảng viên;
  • Mâu thuẫn giữa nỗ lực đào tạo của nhà trường với ý thức tự học, tự rèn luyện còn thụ động của một bộ phận sinh viên.

5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp nào để khắc phục thực trạng?
Bốn nhóm giải pháp được đề xuất gồm:

  1. Đẩy mạnh giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách pháp luật thông qua hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội;
  2. Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp sư phạm cho giảng viên;
  3. Đổi mới nội dung chương trình theo hướng gắn phương pháp luận với thực tiễn và đa dạng hóa phương pháp giảng dạy;
  4. Phát huy ý thức tự học, tự tu dưỡng đạo đức và tự giác chấp hành kỷ cương, pháp luật của chính sinh viên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Phi Long đã làm rõ mối quan hệ bản chất giữa việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng với quá trình hình thành ý thức pháp luật của sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Trên cơ sở đối sánh lý luận triết học mác-xít với số liệu điều tra thực tiễn, công trình đã chỉ ra những khoảng cách nhất định giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế của sinh viên, đồng thời xác lập 3 mâu thuẫn thực tiễn chủ yếu trong giảng dạy và tiếp nhận. Hệ thống 4 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất có tính đồng bộ, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị và nâng cao chuẩn mực ý thức pháp luật cho đội ngũ nhà giáo tương lai.