chương 1 sẽ giới thiệu về thực trạng của ngành nông nghiệp Việt Nam. Mô tả những vấn đề mà ngành đang gặp phải, xác định những các nội dung cần quan tâm để đưa ra vấn đề chính sách công. Chương 2: Phương pháp luận và Khung phân tích Nội dung chương 2 là trình bày về cơ sở lý thuyết, những phương pháp luận để phân tích vấn đề cần nghiên cứu. Cụ thể, đề tài sẽ sử dụng các mô hình lý thuyết và khung lý thuyết đã học bao gồm: - Chuỗi giá trị ngành hàng: chuỗi giá trị sẽ cung cấp khung phân tích về quá trình sản xuất kinh doanh của một ngành hàng từ các công đoạn nuôi trồng, cung ứng nguyên liệu cho sản xuất đến sản phẩm cuối cùng và đến nguời tiêu dung.
Trong mỗi giai đoạn có sự gắn kết và tham gia của nhiều tác nhân khác nhau, qua đó cho thấy những vấn đề phát sinh trong từng công đoạn cần giải quyết để tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi. - Lý thuyết về lợi ích của các bên liên quan để phân tích những lợi ích và thiệt hại của các bên tham gia trong quan hệ mua bán nông sản, những thiệt hại đó là gì, khả năng đàm phán, thương lượng để cân bằng lợi ích. - Sử dụng lý thuyết thất bại của thị trường để tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho thông tin bất cân xứng trên thị trường mua bán nông sản, những hệ quả làm thiệt hại cho người mua và người bán, từ đó xây dựng các giải pháp khắc phục. - Khung phân tích OECD về tính hiệu quả của các văn bản pháp luật trong ngành ngành nông thủy sản để xác định những hạn chế và giải pháp điều chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành.
Chương 3: Phân tích mối quan hệ mua bán giữa doanh nghiệp và nông dân Nội dung chương 3 là tìm hiểu và phân tích thực trạng tình hình mua bán nguyên liệu để mô tả mối quan hệ thu mua giữa nông dân và doanh nghiệp. Chương này sẽ tập trung phân tích những rủi ro của các chủ thể tham gia mua bán cá tra và những góc độ khác tác động tạo ra rủi ro như: quan hệ xã hội, quan hệ về lợi ích, quan hệ trong thể chế 5 và những tác động của chính sách, vai trò của các tổ chức, định chế tài chính, các tổ chức xã hội… có liên quan trong việc hỗ trợ và tác động đến ngành nông nghiệp. Chương 3 cũng kết hợp xem xét vai trò của nhà nước thông qua các chính sách liên quan đến mua bán nông sản ở Việt Nam từ đó xây dựng khung giải pháp kiến nghị về mặt chính sách để giải quyết vấn đề mô tả trên trong chương 4. Chương 4: Kiến nghị chính sách tăng cường vai trò của nhà nước nhằm giảm thiểu rủi ro trong mua bán nông sản Chương 4 rút ra những vấn đề phát hiện và đưa ra những kiến nghị về mặt chính sách đối với nhà nước nhằm được giảm thiểu rủi ro cho các đối tượng tham gia để đảm bảo sự ổn định và phát triển ngành nông nghiệp bền vững.
Đề tài cũng sẽ nêu những giới hạn trong quá trình nghiên cứu để tiếp tục thực hiện về sau. Phụ lục và tài liệu tham khảo Phần phụ lục bao gồm mẫu câu hỏi khảo sát và bảng thống kê kết quả điều tra hộ nông dân và doanh nghiệp chế biến đánh giá về tính hiệu quả của các văn bản pháp luật. Mục tài liệu tham khảo sẽ liệt kê các tài liệu mà tác giả đã đọc, trích dẫn và tham khảo nội dung liên quan đến quá trình thực hiện nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Quan hệ mua bán trong ngành nông nghiệp và thất bại của thị trường.1 Các giai đoạn phát triển nông nghiệp Ngành nông nghiệp Việt Nam đã qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nên quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi theo từng thời kỳ với những đặc trưng riêng.
Trong giai đoạn thập niên 1950 đến 1970, nông nghiệp mang nét truyền thống với đặc trưng mang nét tự cung tự cấp, gắn liền với phong tục tập quán với mục đích đảm bảo đời sống gia đình, do vậy quá trình mua bán diễn ra ít và chủ yếu là trao đổi. Bước sang giai đoạn chuyển dịch cơ cấu, đa dạng hóa cây trồng từ thập niên 70, nền nông nghiệp đang chuyển dần từ tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa với đặc trưng cơ bản là tăng năng suất lao động, bắt đầu áp dụng công nghệ sinh học để giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động. Trong giai đoạn này, các hoạt động trao đổi mua bán bắt đầu diễn ra nhưng chưa thực sự mang tính kinh doanh thương mại. Giai đoạn thứ ba là từ thập niên 1980 đến nay, nông nghiệp bắt đầu chuyển sang chuyên môn hóa sản xuất với đặc trưng là sản xuất theo hình thức chuyên môn, phát triển lợi thế theo quy mô.
Giai đoạn này vốn, công nghệ được kết hợp với công nghệ sinh học để tăng năng suất với mục đích chính là trao đổi thương mại và lợi nhuận. Đặc thù nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, chưa có nhiều nông trại, trang trại có diện tích lớn, ứng dụng đồng bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ nên quá trình thu mua cũng diễn ra tương ứng. Hình thức mua bán quy mô nhỏ trực tiếp giữa nhà máy sản xuất với từng hộ hoặc gián tiếp thông qua thương lái chủ yếu thực hiện nhằm cam kết về mặt thanh toán tiền hàng trong quá trình vận chuyển và giao nhận. Trong vài thập niên gần đây, nông nghiệp tiến dần đến sản xuất quy mô lớn, những hộ sản xuất quy mô nhỏ đang giảm dần sức cạnh tranh nên đã chuyển hướng hợp tác hoặc cho thuê đất, hình thành những tổ hợp tác hoặc những trang trại quy mô lớn, từ vài chục đến hàng trăm 7 hecta diện tích nuôi trồng 2 và các giao dịch mua bán tiến dần đến những quy chuẩn pháp luật hơn.2 Chuỗi giá trị ngành cá tra Việt Nam Đối với ngành cá tra, từ năm 2000, cá tra Việt Nam bắt đầu được biết đến và tiếp cận thị trường các nước.
Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và cá tra nói riêng tăng trưởng nhanh từ năm 2002 và đến 2011 là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn gần 2 tỷ USD, đóng góp chung cho ngành thủy sản và nông nghiệp của Việt Nam. Mặc dù phát triển nhanh và có ảnh hưởng trên thị trường lương thực thế giới nhưng ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế và dễ bị tổn thương. Để tìm hiểu những vấn đề của ngành cá tra, đề tài nghiên cứu tiếp cận tìm hiểu những vướng mắc của ngành thông qua chuỗi giá trị.1: Chuỗi giá trị cá tra Việt Nam Nguồn: tác giả lượt ghi (2013) • Thị trường tiêu thụ của ngành cá tra được xem là khá ổn định khi hiện nay ngành cá tra có trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu và tiêu thụ cá tra. Các thị trường tiêu thụ lớn là Hoa Kỳ, EU, Trung Đông, Nga và một số thị 2 Tác giả ghi nhận thực tế và qua phỏng vấn trực tiếp.
Mặc dù Luật Đất đai năm 2003 chưa cho phép mở rộng hạn điền đối với chủ sở hữu nhưng trên thực tế những người tham gia nuôi trồng tìm cách kết hợp diện tích hoặc hợp thức hóa diện tích để tập trung sản xuất theo quy mô. Diện tích nuôi cá bình quân ở ĐBSCL của các hộ từ 2-5ha, một số hộ có quy mô từ 20-50ha, các doanh nghiệp có vùng nuôi riêng lên đến hơn 100 ha mặt nước. 8 trường mới nổi như Nam Phi, Canada, Mexico, Ai Cập…. đã được tiếp cận và xuất khẩu ngày một gia tăng.
Ngoài các tiêu chuẩn khắt khe và những rào cản về thuế chống bán phá giá, các doanh nghiệp trong ngành đã quen dần và từng bước đảm bảo các quy trình về chất lượng cũng như giá bán. Điểm ổn định của khâu thị trường tiêu thụ là các doanh nghiệp chế biến làm ăn quốc tế nên các hợp đồng kinh doanh được ký kết chặt chẽ, tạo cơ sở vững chắc cho việc mua bán. Một số hạn chế không đáng kể ở khâu tiêu thụ là các doanh nghiệp vẫn đang phải cạnh tranh giá cả và hiện giá bán trên thị trường giảm sút do chính sác doanh nghiệp cùng ngành cạnh tranh lẫn nhau, song việc này đang được các doanh nghiệp khắc phục trong thời gian gần đây. • Chế biến và Thương mại trong ngành cá tra thường đi đôi với nhau do có liên hệ chặt chẽ với nhau, song khâu thương mại là một vấn đề cần được tháo gỡ trong chuỗi giá trị ngành cá.
Về quy mô sản xuất và chế biến, vùng ĐBSCL hiện có 136 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cá tra, trong đó có 64 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, nhưng có đến 72 công ty thương mại. Theo VASEP (2012), trong các doanh nghiệp chế biến, chỉ có 5 doanh nghiệp có công suất chế biến trên 100 tấn/ngày, 10 doanh nghiệp có công suất khoảng 100 tấn/ngày, còn lại hầu hết là doanh nghiệp có công suất nhỏ. Như vậy hầu như hiện nay ngành phát triển tự phát, không có sự can thiệp của nhà nước. Các công ty thương mại có quy mô nhỏ này thường ký kết hợp đồng đơn lẻ, do không chủ động sản xuất nên thường tìm đến các đơn vị chế biến thu mua với giá thấp để bán ra thị trường, dẫn đến các doanh nghiệp có quy mô và chi phí sản xuất lớn phải cạnh tranh với nhau về giá trên cùng một thị trường xuất khẩu.
Ở công đoạn này cũng cho thấy có nhiều khiếm khuyết trong ngành phụ trợ như: cung ứng bao bì, đào tạo lao động, đóng gói, vận chuyển… đang làm cho các doanh nghiệp có quy mô phải gánh nặng chi phí hơn. • Thu mua là công đoạn quyết định lợi ích của người nuôi và chi phí sản xuất, lợi thế cạnh tranh của các công ty chế biến bởi sự thương lượng, đàm phán và cân bằng lợi ích được thông qua trong khâu thu mua nguyên liệu. Trong một số ngành hàng có cấu trúc ngành ổn định hoặc được sự trợ giúp của chính phủ, quá trình thu mua được diễn ra trôi trãi. Riêng ngành cá tra, do là mặt hàng không thể tồn trữ, bản thân không nhiều thương lái tham gia ngành, sản 9 phẩm khó vận chuyển, chưa có chính sách hỗ trợ từ chính phủ, nông dân không có nhiều điều kiện vận chuyển đến nơi bán nên việc trao đổi mua bán diễn ra phức tạp hơn.