mở đầu và kết luận thì còn có tài liệu tham khảo, phụ lục và ba Chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về định giá đất khi nhà nƣớc thu hồi đất. Chƣơng 2: Thực trạng định giá đất khi nhà nƣớc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chƣơng 3: Giải pháp định giá đất khi nhà nƣớc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1.
Khái quát về đất đai 1. Khái niệm về đất đai Theo Từ điển Tiếng Việt thì “đất đai là nơi ở, có thể xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc sinh sống của con người” (trích Nguyễn Nhƣ Ý năm 1999). Theo “Luật Đất đai 1993” có nêu: “Đất đai được xem là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng đồng thời đất đai cũng được xem là tư liệu sản xuất đặc biệt”. Diện tích đất đai năm 2021 trên cơ sở kết quả thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tại Quyết định số 719/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 3 năm 2023 tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2021 nhƣ sau: “Tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước là 33.480 ha; trong đó: diện tích nhóm đất nông nghiệp là 27.319 ha (chiếm 84,48% diện tích đất của cả nước), diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 3.158 ha (chiếm 11,92% diện tích đất của cả nước) và diện tích nhóm đất chưa sử dụng là 1.” Đất đai có hai thuộc tính là thuộc tính tự nhiên và thuộc tính xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu con ngƣời về kinh tế - xã hội, cụ thể nhƣ sau: Các yếu tố là các thuộc tính tự nhiên nhƣ: số đo diện tích bề mặt đất, hình dạng đất, chiều dài, chiều rộng và vị trí của đất.
Ngoài ra còn có các đặc tính địa hình, địa chất, địa mạo, địa chấn, lý sinh của đất. Các nhân tố thuộc tính xã hội của đất đai đƣợc thể hiện thông qua trạng thái của đất đai. Vị thế đƣợc xác định bởi chất lƣợng, số lƣợng và cƣờng độ của các mối quan hệ xã hội, hoặc bởi khả năng của ngƣời sử dụng đất trong việc thiết lập các mối quan hệ với những ngƣời hàng xóm xung quanh, các nhà cung cấp dịch vụ trong khu đô thị, thị trƣờng, các đối tác khác, v. địa vị cao hay thấp.
Đặc điểm và giá trị đất đai Đất đai đƣợc coi là hàng hóa, nhƣng là hàng hóa đặc biệt, lý do: sau khi kinh tế thị trƣờng phát triển, các quan hệ về đất đai ngày càng phong phú, quyền sử dụng 4 đất có thể đƣợc mua bán, trao đổi, chuyển nhƣợng, hình thành thị trƣờng đất đai. Thị trƣờng đất đai sẽ tạo ảnh hƣởng, liên quan đến rất nhiều thị trƣờng khác, sự tác động của nó có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế của đất nƣớc và đời sống của ngƣời dân, do đất đai không phải là một loại tài sản thông thƣờng, cho nên nó có những đặc tính sau: “(i) Đặc điểm hình thành: đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con ngƣời, là sản phẩm của tự nhiên nên đất đai có mặt trƣớc con ngƣời. Chúng ta không thể nào dịch chuyển đƣợc đất đai do chúng có tính bất động, trong khi các tài sản khác là kết quả lao động của con ngƣời. Dù đƣợc đem chuyển nhƣợng nhƣng chỉ đƣợc quyền sử dụng và khai thác, không thể chuyển bất động sản đó đến một nơi cụ thể nào khác.” “(ii) Đất đai có tính hữu hạn: bởi vì diện tích bề mặt trái đất là có hạn nhƣng do nhu cầu sử dụng đất của chúng ta rất lớn vì phải đáp ứng nhu cầu về tăng dân số nên chúng ta càng phải sử dụng đất đai một cách tiết kiệm; đồng thời, việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất đai là một vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn và mang tính toàn cầu.” “(iii) Tính không đồng nhất: cụ thể là tỉ trọng và chất lƣợng giữa các thửa đất là khác nhau.
Mỗi bất động sản sẽ có những khác biệt về giá, giá cả gắn liền với đặc điểm riêng của từng loại bất động sản khác nhau. Giả sử hai bất động sản nằm trong cùng một khu vực nhƣng giá cả của chúng phụ thuộc vào thời điểm bán nhƣ thế nào, ngƣời mua có thích hay không, tâm lý của ngƣời mua lúc đó nhƣ thế nào và đặc điểm cụ thể của bất động sản đó. Tất cả những điều này đã chứng minh cho sự không đồng nhất đối với bất động sản và nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay.” “(iv) Đất đai có tính bền vững: tức là cho dù đem sử dụng cho mục đích nào đi nữa thì nó vẫn mang lại lợi ích cho chủ sỡ hữu; hơn nữa, việc sử dụng để đƣợc hƣởng quyền chủ sở hữu đất đai và hƣởng các lợi ích khác do đất đai mang lại và thời gian sử dụng lại vô hạn làm cho giá trị của đất đai, bất động sản đƣợc tăng thêm. Tuy nhiên, để đất đai luôn có giá trị cao thì chúng ta cần phải cải tạo và bồi bổ, nếu không thì đất đai ngày càng trở nên hoang hoá.” 5 Trích Ngô Thị Phƣơng Thảo năm 2021 nhƣ sau: “Theo quan điểm cổ điển thì giá trị đất đai là do các yếu tố lao động kết tinh tạo thành.
Giá trị đất đai đƣợc tính bằng chi phí lao động để cải tạo đất cộng với giá trị của sản phẩm nông nghiệp và các chi phí vật chất khác đầu tƣ vào đất đai. Quan điểm này chỉ đƣợc sử dụng trong các quan hệ phi thị trƣờng hoặc trong quan hệ giữa ngƣời sử dụng đất và nhà nƣớc để thực hiện chính sách về đất đai nhƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất thì phải thực hiện chính sách bồi thƣờng hoặc ngƣời sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính”. “Theo quan điểm cổ điển thì giá trị đất đai là do các yếu tố lao động kết tinh tạo thành. Giá trị đất đai đƣợc tính bằng chi phí lao động để cải tạo đất cộng với giá trị của sản phẩm nông nghiệp và các chi phí vật chất khác đầu tƣ vào đất đai.
Quan điểm này chỉ đƣợc sử dụng trong các quan hệ phi thị trƣờng hoặc trong quan hệ giữa ngƣời sử dụng đất và nhà nƣớc để thực hiện chính sách về đất đai nhƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất thì phải thực hiện chính sách bồi thƣờng hoặc ngƣời sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính” (trích Ngô Thị Phƣơng Thảo năm 2011). “Quan điểm hiện đại, đứng trên góc độ thị trƣờng, khi một hàng hóa mang lại nhiều lợi ích và thu nhập cao thì nó mới đƣợc xem là có giá trị cao. Nhƣ vậy, căn cứ vào số thu nhập mà đất đai mang lại cho ngƣời sở hữu và sử dụng để xác định giá trị của mảnh đất đó. Do đó, cần phải xác định đƣợc những yếu tố tạo nên luồng nhập của đất đai khi định giá đất và đánh giá trong tƣơng lai những yếu tố nào có thể ảnh hƣởng đến giá trị đất, bao gồm cả kỳ vọng của chủ sở hữu đất đai” (trích Ngô Thị Phƣơng Thảo năm 2011).
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm năm 2005 nhƣ sau: “Quan điểm giá trị đất đai trong lý thuyết marketing hiện đại gồm giá trị vô hình và giá trị hữu hình nhằm để xem xét, xác định giá trị trao đổi của sản phẩm. Chất lƣợng vật lý của sản phẩm ứng với giá trị hữu hình, còn vị thế thƣơng hiệu ngự trị trong tâm tƣ, nguyện vọng và ƣớc muốn của con ngƣời ứng với giá trị vô hình”. Do đó, giá trị của đất đai đƣợc hiểu nhƣ sau: “(i) Giá trị hữu hình của đất đai là các yếu tố đặc điểm tự nhiên nhƣ diện tích, độ phì,. cùng với các giá trị đầu tƣ cải tạo và xây dựng hạ tầng trên đất.
6 (ii) Giá trị vô hình của đất đai là giá trị của các yếu tố đặc điểm vị thế xã hội, đến từ tâm tƣ, nguyện vọng, tình cảm của cá nhân con ngƣời nói riêng và xã hội nói chung. Tùy thuộc vào vị thế xã hội của đất đai mà hình thành giá trị trao đổi của nó do đó sự thay đổi của vị thế xã hội của đất đai sẽ gắn liền với sự thay đổi của giá trị trao đổi. Trong trƣờng hợp vị thế đất đai giống nhau thì giá trị trao đổi của nó phụ thuộc vào giá trị hữu hình, tức là giá trị sử dụng của đất đai.” Dựa trên những lập luận trên, tác giả đƣa ra đánh giá về giá trị của đất đai nhƣ sau: “Một phần giá trị của đất đai là do tự nhiên tạo ra, một phần là do hoạt động phát triển và sử dụng đất đai của con ngƣời tạo ra, giá trị đó đƣợc gọi là “giá trị đất đai” (Địa tô Tƣ bản hóa). Sản lƣợng thu đƣợc từ đất đai càng lớn thì giá trị của nó càng cao.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, đất đai có thể đƣợc mua, bán và chuyển nhƣợng, mang lại cho đất đai một “giá trị trao đổi”. Giá trị của đất đai đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ mà ngƣời ta thƣờng gọi là giá đất”. Phân loại đất đai Căn cứ Điều 10 Luật Đất đai 2013 quy định phân loại đất dựa vào mục đích sử dụng đất và đƣợc phân loại nhƣ sau: “Nhóm đất nông nghiệp bao gồm đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Ở nước ta, nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 84,48% diện tích đất của cả nước, loại đất này được phân bố rộng khắp và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sự phát triển kinh tế của nước ta.
Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp,… Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định rõ được cụ thể mục đích sử dụng.” Trong thực tiễn, ngoài các khái niệm quy định trong “Luật Đất đai 2013” nêu trên, chúng ta còn phân chia đất đai thành: đất thổ cƣ, đất nền, đất canh tác, đất tái định cƣ, v.