CHƯƠNG 1 TIEN DE CƠ BAN CHO VIỆC XÁC LAP VAI TRO CUA PHẬT GIÁO TRONG CHINH SACH “QUAN CHU THAN DAN” THOI LY 1.1 Khái quát về sự hình thành chính sách Quân chủ thân dân thời Ly Những cơ sở cho sự xác lập chính sách “Quán chủ thân dan” thời Ly (Lịch sử triều đại nhà Lý bắt đầu từ 1009 đến 1225 là bước phát triển nhảy vọt về chất của quốc gia phong kiến độc lập) Mỗi một chính quyền nhà nước hình thành, tồn tại và phát triển đều dựa trên những điều kiện kinh tế, xã hội và bối cảnh lịch sử nhất định. Thời đoạn lịch sử mà chúng ta xem xét ở đây là giai đoạn xã hội thời Ngô - Đinh - tiền Lê là giai đoạn mà những yêu cầu của tình hình thực tiễn xã hội và yêu cầu của đất nước có những bước chuyên, làm cho hệ ý thức cai trị buổi sơ khai không còn phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội. Đây là cơ sở khách quan cho sự xác lập nhà nước thân dân thời Lý về sau. Những dịch chuyền lớn về kinh tế, xã hội tất nhiên, trước hết và chính yếu bắt nguồn từ những điều kiện cụ thê của thực tiễn xã hội trong những thế kỷ trước đó.
Giai đoạn từ nhà Đinh chuyên sang nhà tiền Lê trải qua nhiều biến cố lịch sử. Dựa trên nền tảng nhà Đinh, nhà tiền Lê xây dựng nhà nước phong kiến chuyên chế, bên cạnh việc xây dựng đất nước, ôn định xã hội thời Đinh - Tiền Lê còn phải đối phó liên tục với nạn xâm lược của nhà Tống phương Bắc. Sau khi giành được thắng lợi đã cho xây dựng cũng cố đất nước ban hành các chính sách chuyên chính để cai trị đất nước. Như sau khi lên ngôi, Đình Tiên Hoàng đặt ra những luật lệ hình phạt nặng nề như bỏ phạm nhân vào vac dau hay cho hồ báo xé xác.
Quân đội dưới thời Dinh Tiên Hoang đã được tổ chức chặt chẽ, phân ra làm các đơn vị. Còn đối với nhà tiền Lê sau khi đánh tan quân xâm lược không còn lo lắng việc chống Tống nữa, Lê Dai Hành sửa sang mọi việc trong nước. Ông mở mang kinh đô Hoa Lư, củng cô bộ máy chính quyền trung ương, sắp xếp các đơn vi hành chính, khuyến khích hoạt động nông nghiệp. Tình hình kinh tế xã hội, văn hóa thời Ngô - Dinh - Tiên Lê.
Về kinh té, nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong sinh hoạt kinh tế. Phần lớn ruộng đất công của làng xã. Nông dân được làng xã chia ruộng đề cày cấy, nộp thuế và đi lính cho nhà vua. Các vua rất chú ý khuyến khích nông nghiệp.
Lê Hoàn là vua Việt Nam đầu tiên cử hành lễ cày tịch điền vào mùa xuân hàng năm. Từ đó, các vua thời sau đều giữ lệ ấy. Song song với nông nghiệp, vấn đề thủy lợi cũng được các vua chú ý kênh ngòi được dao vét nhiều nơi vừa dé tưới ruộng vừa dé tiện lợi giao thông bằng thuyền bè. Trên những bến đò quan trọng, nhà nước cho thuyền chở người qua lại.
Hệ thống giao thông đường bộ được mở mang, nhất là đường từ Hòa Lư đến đất Thăng Long. Các nghề thủ công như nghề gốm, nghề dệt, khai mỏ, luyện sắt, đúc đồng. đều được phát triển. Nhờ ngành thủ công nghệ phát triển cao nên đã làm cho đời sống vật chất của dân chúng đã được trở nên thanh nhàn hơn trước.
Triều đình cũng chú ý phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp dé phục vụ vua quan và quân đội, nhiều thợ thủ công đã được tập trung ở Hoa Lư như thợ nề, thợ đá, mộc, ngọc, chạm khắc, đát vàng bạc dé xay dung kinh đô trong đó có nhiều cung điện lớn lợp ngói bạc, các cột dát vàng bạc. Trong dân gian, các nghè truyền thống như dét vải lụa, làm giấy tiếp tục phát triển. Tiền tệ cũng thúc đây việc trao đôi buôn bán hàng hóa trong các chợ làng quê và một số trị sở Hoa Lu, Tống Bình, Long Biên. Việc trao đôi buôn bán vật phẩm cũng được thực hiện với Trung Quốc và với các thuyền buôn nước ngoài.
Các vua Ngô - Đinh - Tiền Lê khi lên ngôi hoàng đế đều đã có găng thực thi quyền sở hữu ruộng đất nhà nước, vừa dé khang định quyền lực vừa dé nắm lấy than dân, thu tô thuế, bắt lính. Hằng năm mùa xuân nhà vua dich thân làm lễ tịch điền, đi vài đường cày dé nêu gương. Các vua Dinh, tiền Lê cũng phong cấp đất đai cho các hoàng tử, quý tộc và quan lại. Nhà nước cũng bước đầu thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích sản xuất.
Ngoài ra các ông vua thời này đã chú ý tới các lễ hội văn hóa như: vua Đinh Tiên Hoàng đặt ra chức Ưu bà để dạy múa hát cho quân đội, vua Lê Đại Hành kiến tạo lại trò chơi đua thuyền, cứ vào tháng bảy là tháng sinh nhật của vua, vua cho thả thuyền ở giữa sông, lấy tre kết làm núi giả trên thuyén, goi la Nam son rồi cho đua thuyền. Lễ hội này được nhà Ly kế tục. Nhà nước Đại Cô Việt thời Ngô - Đinh - Tiền Lê về cơ bản là một nhà nước võ tri. Các vua (Dinh Tiên Hoàng, Lê Dai Hành) đều xuất thân là những tướng lĩnh quen trận mạc, là tổng chỉ huy tối cao quân đội, năm giữ mọi quyền hành.
Hệ thống quan lại phần lớn là các quan võ. Dưới chế độ võ trị, luật pháp thời Đinh - Tiền Lê còn nghiêm khắc và tuỳ tiện, dựa theo ý muốn của nhà vua. Dinh Bộ Lĩnh đặt vac dầu và cũi hé ở sân triều dé trừng phạt phạm nhân. Lê Hoàn hay xử phạt đánh roi những ai làm phật y mình.
Lê Long Đĩnh lẫy việc giết người làm trò vui. Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, ở Đại Cô Việt nửa sau thé kỷ X cũng đã tiếp tục củng cố những yếu tố của một nền văn hóa mang tính dân tộc. Về mặt đời sống tôn giáo tín ngưỡng, thì Đạo Nho tuy đã xâm nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc, nhưng đến lúc này vẫn không tạo được những ảnh hưởng đáng kể, nổi trội trong đời sống tâm linh vẫn là những tín ngưỡng dân gian hòa trộn với những tôn giáo có nguồn gốc từ nền văn minh Nam Á như Phật và Đạo. Triều đình Đinh - Tiền Lê đã có ý thức trọng dụng và suy tôn Phật giáo.
Ở kinh đô Hoa Lư đã xây dựng nhiều chùa chiền (chùa Bà Ngô, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ) và các cột đá khắc kinh Phật. Các nhà sư thời kỳ này như Sùng Phạm, Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu (Khuông Việt), Vạn Hạnh, đã là các trí thức được sử dụng như những cố vấn triều đình và những nhà ngoại giao đắc lực của nhà vua. Phật giáo được xem như: là một bệ đỡ cho đời sống tinh thần Đại Cô Việt. Một điểm đặc biệt của thời Ngô - Đinh - Tiền Lê là sự hưng thịnh của phật giáo.
Các nhà vua đã lay lý thuyết Phật giáo làm tư tưởng chủ đạo cho việc trị dan và việc giảm ảnh hưởng của nhà Hán sau ngàn năm Bắc thuộc. Phật giáo đã được thâm nhập vào đất nước từ thế kỷ thứ nhất, trước Nho giáo. Những người đầu tiên mang tôn giáo này đến chưa phải là những nhà truyền giáo hay là những bậc chân tu mà là những nhà buôn bán người Ấn Độ theo đạo Phật, họ đến buôn bán và trong thời gian lưu trú, họ ăn chay niệm Phật cúng bái theo nghi lễ Phật giáo, có người lại lay vợ Việt và dan dần những sinh hoạt tôn giáo của họ lan đến người Việt. Giáo Lý đạo phật cho rằng đời là bé khổ, con người bị ràng buộc trong kiếp luân hồi, muốn giải thoát khỏi cảnh ay, con người phải diệt dục, phải diệt lòng ham muốn dé tiễn tới Niết bàn.
Lý thuyết ấy phù hợp với tâm trạng của người Việt đang ở trong cảnh bị áp bức đô hộ của phương Bắc. Vào thế kỷ thứ hai thì các tăng sĩ theo phái Đại thừa đến truyền giảng đạo Phật. Đến năm 580, thiền phái đầu tiên của Việt Nam được Vinitaruci (Tỳ Ni Da Lưu Chi) thành lập (Thiền tông là do Bodhidharma, người An, sáng tạo). Theo ông, nguồn gốc bản chất của con người là thiện và con người có khả năng giao tiếp trực tiếp với Phật bằng trái tim chân thành.
Ông bắt đầu dịch kinh Phật, tác phâm đầu tiên là kinh "Tượng đầu tinh xá" mang tính chất thiền học, nói về sự giác ngộ như một cái gì không thể dùng lời nói và chữ viết dé diễn tả được, tuệ giác được truyền thang vào tâm người, thấy được nhân tâm và thành chính quả. Những người nỗi tiếng nhất trong phái thiền này là Từ Đạo Hạnh, Vạn Hạnh, thuộc thế hệ thứ 12 đời Ly. Thiền phái thứ hai cua Việt Nam do nhà sư Vô Ngôn Thông thành lập vào thé ky VIII. Vô Ngôn Thông gốc người Quảng Đông đến Giao Châu vào năm 820 vào trụ trì tại ngôi chùa Kiến Sơ, làng Phù Đồng (Bắc Ninh).
Vô Ngôn Thông tính tình trầm lặng ít nói, nhưng lại hiểu biết mau chóng cho nên được người đời tặng cho danh hiệu là Vô Ngôn Thông. Ông phủ nhận việc đi tìm chân lý, niết bàn qua các kinh điển mà chỉ bằng thiền tại tâm, ông chủ trương con người có thê trong giây lát đạt đến giác ngộ tức khắc, khỏi cần qua nhiều giai đoạn tiệm tiễn bởi vì "Phật tại tâm". Vào thời Ngô - Dinh - Lê, sau khi đất nước giành lại được độc lập, những nhà nho được đào tạo theo kiểu Trung Hoa bị gạt ra ngoài cuộc sống chính trị, nhà nước trọng dụng các nhà sư va chính ho đã có một vai tro quan trọng trong viéc cai tri đất nước. Các vương triều Ngô - Đinh - Tiền Lê có thể coi như một thời kỳ lịch sử quá độ từ ngoại thuộc qua tự chủ đến độc lập.
Những thập ky ban lề đó đã bước đầu thực hiện được sự nghiệp khôi phục độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng chính quyền quân chủ và đặt nền móng cho một nền văn hóa dân tộc. Sự nghiệp đó sẽ được củng cố va phát triển lên một tầm cao mới trong những thế kỷ tiếp sau. Từ cuối thời Ngô - Đinh - tiền Lê sang đến thời Lý, là một bước chuyển lớn trong chính sách cai trị đất nước của các triều đại. Nhất là cuối thời Tiền Lê đã diễn ra rất nhiều sự thay đôi trong kết cấu kinh tế — xã hội, mô hình quản lý tập quyền phong kiến đã bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với tình hình thực tế của đất nước.