mở đầu sự nghiệp thống nhất đất nước của Triều Nguyễn Tây Sơn. Sau khi lên ngôi, thống nhất đất nước vào năm 1802. Đến năm 1806 vua Gia Long chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm: Trực Lệ - Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh; và, Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ đây.
Tỉnh Quảng Nam lúc này được chia thành 8 phủ, huyện gồm: Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ và Tiên Phước. Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng được tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa cho thực dân Pháp. Sau Hiệp định Genève 1954 (20/7/1954), năm 1956, tỉnh Quảng Nam (1956) được chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam và Quảng Tín. Tỉnh Quảng Nam bao gồm các quận: Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, và Thường Tín; tỉnh Quảng Tín bao gồm các quận: Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ.
Sau khi thống nhất đất nước (1975), chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; và Đà Nẵng trở thành tỉnh lị. Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng gồm thành phố Đà Nẵng và các huyện Hòa Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My. Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng một lần nữa được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam lúc này có 14 huyện: Giằng (nay là huyện Nam Giang), Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Thị xã Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn và Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My và Nam Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: thị xã 11 Luan van Tam Kỳ (Nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An).
Văn hóa xã hội Nói đến Quảng Nam là nói đến vùng đất hội tụ và kết tinh của nhiều nền văn hóa khác nhau, mảnh đất có nhiều di tích văn hóa, lịch sử, nơi đã sản sinh ra nhiều thế hệ nhân tài kiệt xuất, là “đất ngũ phụng tề phi, địa linh nhân kiệt”. Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển, Quảng Nam được coi là vùng “đất học”, “đất khoa bảng”. Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), toàn quốc có 18 vị Tân Khoa, thì Quảng Nam có 5 vị, 3 Tiến Sĩ và 2 Phó Bảng. Ðây là sự kiện hy hữu trong lịch sử thi cử của nước nhà.
Lịch sử khoa cử của dân tộc ta tính từ triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi tiến sĩ, với 2.971 người đậu tiến sĩ; nhưng chưa có khoa nào có 5 người đồng hương cùng lúc được ghi trên trân bảng vàng. Vua Thành Thái và triều Nguyễn đã ban danh hiệu Ngũ Phụng Tề Phi để khen tặng. Năm vị đó là: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hiển Tiến [44, tr. Ngoài ra khoa Tân Sửu (1901) Quảng Nam có 4 vị đỗ đồng khoa Phó Bảng là các ông Nguyễn Ðình Hiến, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Sỹ và Phan Chu Trinh.
Bốn vị này được mệnh danh là Tứ Kiệt. Những danh hiệu Ngũ Phụng Tề Phi hay Tứ Kiệt nói lên tài học và sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam, con cháu người Quảng Nam nói chung và Tộc Trần nói riêng lấy đó làm vinh dự và noi gương. Nơi đây là quê hương của nhiều nhân tài học rộng, đỗ cao; là quê hương của nhiều vị anh hùng dân tộc qua các thời kỳ; chúng ta có thể kể ra: Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân… Ða số những danh sĩ Quảng Nam là những người yêu nước thương dân. Ra làm quan là những người thanh liêm nổi tiếng.
Gặp thời loạn ly, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ tổ quốc, từ quan, tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, như: Phạm Phú Thứ, người làng Ðông Bàn, phủ Ðiện Bàn; Hoàng Diệu, người làng Xuân Ðài (Ðiện Bàn); Trần Văn 12 Luan van Dư, người làng An Mỹ Tây, huyện Tam Kỳ; Nguyễn Duy Hiệu, người làng Thanh Hà, Ðiện Bàn… Trong quá trình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ các phong trào Cần Vương, Ðông Du, Duy Tân và những phong trào kháng chiến về sau, các danh sĩ Quảng Nam đã đóng góp cả bản thân và đi sống của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc. Với đặc điểm là vùng đất mới của phong trào Nam tiến của quốc gia Đại Việt, nên dân cư có nguồn gốc từ nhiều địa phương khác di cư đến sinh sống bên cạnh các tộc người bản địa. Chính điểm này đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong các nếp sinh hoạt, văn hóa tại địa phương này. Tại khu vực miền núi Quảng Nam, đây là địa bàn cư trú lâu đời của các tộc người thiểu số như Cơ-tu, Cor (Koh), Gié-Triêng, Xê-đăng… Mỗi tộc người mang nét đặc trưng riêng biệt.
Người Cơ-tu có Gươl, cồng chiêng, nói lý, hát lý, người Cor, Cadong, Xêđăng để lại dấu ấn trong các nghi lễ, tập quán, nghệ thuật diễn xướng của đồng bào. tất cả những những giá trị văn hóa đặc sắc (phong tục, tập quán, lễ hội.) này đã tạo ra một bức tranh sinh động, nhiều màu sắc đã và đang hiện hữu trong đời sống của nhân dân các vùng, miền; làm cho văn hóa Quảng Nam phong phú và đa dạng [44, tr. Do đó, khi nói đến văn hóa Quảng Nam là nói đến sự phong phú, đa dạng của một vùng đất mới (gần 550 năm) trên cả hai phương diện vật thể và phi vật thể. Hơn 55 di tích cấp quốc gia và 282 di tích cấp tỉnh là những minh chứng hùng hồn cho việc này.
Nổi bật nhất là hai Di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An và khu Đền tháp Mỹ Sơn. Đây là 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận với những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân loại. Khu Di tích Mỹ Sơn là cả một quần thể kiến trúc độc đáo của những ngôi đền tháp uy nghiêm của các vị vua Chăm. Khu đền tháp Mỹ Sơn là một tiêu biểu cho kiến trúc cổ Chămpa mà đến nay vẫn là một ẩn số đối với nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia xây dựng trong cũng như ngoài nước.
Điều này vô tình làm tăng thêm tính huyền bí cho những du khách khi đến thăm các ngôi tháp cổ Mỹ Sơn. Bên cạnh đó có thể kể đến hệ thống tháp Chăm, Kinh đô cổ Trà Kiệu. Hàng trăm công trình kiến 13 Luan van trúc Việt cổ như đình, chùa, văn miếu, lăng miếu, nhà ở. có niên đại cách đây 300 - 500 năm.
Tất cả các di tích này không những có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật mà còn có ý nghĩa lịch sử quan trọng của một vùng văn hóa xứ Đàng Trong. Kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương. đây là những nơi lưu lại dấu ấn của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt. Đặc trưng văn hóa Quảng Nam không chỉ dừng lại ở các công trình kiến trúc cổ mà còn có các hoạt động khác mang đậm bản sắc văn hóa được lưu giữ trong các phong tục, tập quán; các làng nghề; các lễ hội của các cộng đồng dân cư sinh sống trong toàn tỉnh Quảng Nam.
Các làng nghề truyền thống tại Quảng Nam có thể kể tên như sau: Làng gốm Thanh Hà (Thanh Hà, TP. Hội An) Làng mộc Kim Bồng (Cẩm Kim, TP. Hội An) Làng đúc đồng Phước Kiều (huyện Điện Bàn) Làng dệt Mã Châu (Nam Phước, Duy Xuyên) Làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (Duy Trinh, Duy Xuyên) Làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (Xã Duy Vinh, Duy Xuyên) Làng rau Trà Quế (Cẩm Hà, TP. Hội An) Làng trống Lam Yên (Đại Minh, huyện Đại Lộc) Làng nghề làm bún (Tân Thạnh, TP.
Tam Kỳ) Làng nghề Truyền thống nước mắm Cửa Khe (Bình Dương, Thăng Bình) Làng nghề hương Quán Hương (Thăng Bình) Làng nghề đan lát Tam Vinh (Phú Ninh). Ở miền núi, đã giữ gìn và gây dựng được một số làng dệt thổ cẩm như huyện Nam Giang có làng Công Dồn (xã Duôih), Zơ ra (xã Tabhing); huyện Đông Giang có Đhrồng, Bhoồng (xã Tà Lu). Các lễ hội ở Quảng Nam phong phú và đa dạng; bao gồm các lễ hội của người dân miền núi, miền biển, lễ hội nông nghiệp, cũng như các lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng v. tất cả các lễ hội này đều mang yếu tố tâm linh và được tổ chức hàng năm để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; tưởng nhớ 14 Luan van công đức của bậc tiền hiền; hướng về cội nguồn, truyền thống của dân tộc.
Tiêu biểu như lễ hội Bà Thu Bồn (ngày 12 tháng 2 âm lịch), Lễ hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn. Đây là dịp để mọi người bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình.
Lễ hội Nguyên Tiêu của cộng đồng Hoa Kiều tại Hội An và được tổ chức tại Hội Quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm. Lễ hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại khu phố cổ Hội An. Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng. Tôn giáo, tín ngưỡng Là vùng đất mới cộng cư của dân Đại Việt, do vậy các truyền thống tôn giáo, tín ngưỡng không được phong phú như đồng bằng Bắc bộ.
Tuy nhiên tình hình sinh hoạt, hoạt động của các tôn giáo tín ngưỡng tại đây không kém phần phong phú. Bên cạnh các tín ngưỡng của một số tộc người thiểu số tại các vùng núi như Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang thì những nơi có sự cư ngụ của tộc người Kinh, các tôn giáo được những người này theo tín ngưỡng và trở thành tín đồ gồm: Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài.