LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ ngày nay, đổi mới sáng tạo ở các doanh nghiệp (DN) có vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa của DN. Đổi mới sáng tạo (innovation) (ĐMST) được hiểu là việc “tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa” (Luật Khoa học và Công nghệ (KHCN) 2013). Hay theo OECD (2010), ĐMST là "thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại".
Với những tiến bộ KHCN và những ý tưởng sáng tạo trong quản trị, các DN có thể sản xuất nhiều hơn với cùng lượng vốn và lao động (Solow,1987). Đặc biệt trong bối cảnh cần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, ĐMST là yếu tố cốt lõi để nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào cho tăng trưởng. Tuy nhiên, với đặc thù có đến 90% các DN Việt Nam là DN nhỏ và vừa (DNN&V), họ đang gặp rất nhiều khó khăn trong ĐMST. Trong khi đó, một lực lượng lớn các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tại các Viện nghiên cứu, trường đại học có đủ khả năng giải quyết các yêu cầu từ phía DN, nhưng lại không tiếp cận được và không nắm bắt được nhu cầu ĐMST của DN.
Điều đó dẫn đến thực tế là trong khi Nhà nước rất quyết tâm đổi mới KHCN (thể hiện ở việc Quốc hội yêu cầu bố trí không dưới 2% chi NSNN cho KHCN), thì kết quả nghiên cứu khoa học vẫn ít được thương mại hóa và ít được chuyển giao đến cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng. Trong thời gian qua, Quốc hội, Thủ tướng chính phủ đã ban hành các Luật, Đề án cho việc thúc đẩy ĐMST (Luật Chuyển giao công nghệ [CGCN], “Đề án 844” Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025). Tuy nhiên 2 các cơ chế, chính sách hỗ trợ ĐMST vẫn còn đang manh mún và chia cắt giữa các đối tượng có vai trò quyết định trong hoạt động ĐMST ở các DN, đó chính là bản thân DN và các cơ sở nghiên cứu triển khai (viện/trường). Về phía chính sách đối với DN ĐMST, hiện mới dừng lại ở mức hỗ trợ vốn cho các DN có nhu cầu và ý tưởng về ĐMST, mà chưa hướng tới việc thu hút lực lượng các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các đơn vị nghiên cứu như viện, trường tham gia hỗ trợ ĐMST ở các DN thông qua việc nghiên cứu và CGCN.
Nhà nước cũng chưa có những giải pháp đồng bộ để hỗ trợ đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) ở các viện trường hướng theo yêu cầu từ phía DN. Rõ ràng, cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận về cơ chế, chính sách của Nhà nước để hỗ trợ quá trình ĐMST tại các DN, trong đó có việc thu hút các viện/trường, cơ sở NCKH tham gia tích cực vào quá trình ĐMST tại DN. Từ những khó khăn trên, cao học viên đã lựa chọn đề tài “Vai trò của nhà nước trong thúc đẩy ĐMST tại các DN” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Hy vọng thông qua nghiên cứu này sẽ đưa ra giải pháp chính sách từ phía cơ quan nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động ĐMST của các DN, trong đó tập trung vào vai trò gắn kết giữa các viện nghiên cứu và trường đại học (bên cung) với các DN có nhu cầu ĐMST (bên cầu).
Tổng quan nghiên cứu Khái niệm ĐMST đã được đề cập rất nhiều trong thời gian gần đây tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế thì khái niệm ĐMST không phải là mới. Ngay từ những năm 1992, tổ chức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra khái niệm về ĐMST. Tuy nhiên, khái niệm lúc này chỉ nhằm mục đích thống kê.
Cho đến 2005, trong cuốn Cẩm nang Oslo (ấn bản lần thứ ba), OECD đã Commented [VC1]: Logic với nhận định mới với VN nhưng k mơpis với TG, ở đây em cần đưa các khái niệm của đưa ra một định nghĩa mới về ĐMST (innovation) nhằm mục đích đo lường, đánh thế giới trước. Ngoài ra, nên chia phần tổng quan thành các tiểu mục, rồi phân bố lại các tài liệu mà em đã tổng quan giá: “đổi mới sáng tạo là việc thực hiện (implementation) một sản phẩm (hàng hóa vào các tiểu mục đó. Ví dụ, dựa vào tổng quan của em hiện nay, thầy thấy nên chia thành các nhóm đề tài tổng quan hoặc dịch vụ) mới hoặc được cải tiến đáng kể; hoặc là quy trình, phương pháp như sau: 1. Các nghiên cứu bàn về khái niệm, tính chất của ĐMST marketing mới hoặc là phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, trong 2.
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa viện trường và DN trong ĐMST tổ chức nơi làm việc hoặc trong quan hệ với bên ngoài”. Và khái niệm này được 3. Các nghiên cứu về vai trò thúc đẩy ĐMST tại các DN. 3 OECD thống nhất cho đến tận ngày nay.
Ở Việt Nam, khái niệm ĐMST cho đến năm 2013 mới được chính thức định nghĩa thông qua Luật Khoa học và Công nghệ 2013 như sau: “ĐMST (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”. Tựu chung lại, khái niệm ĐMST của Thế giới và Việt Nam đều nhấn mạnh đến việc đưa một sản phẩm mới ra thị trường. ĐMST không chỉ dừng lại ở phát minh mà là “việc sử dụng tri thức mới để tạo ra một dịch vụ hoặc sản phẩm mới mà khách hàng mong muốn”. Ngay từ những năm 1930, Schumpeter cũng đã có những định nghĩa về ĐMST trong DN, coi đó là “sự kết hợp mới” (new combination).
và chia thành 5 nhóm chính về ĐMST như sau: - Tạo ra sản phẩm mới chưa từng được ra mắt hoặc nâng cao chất lượng của những sản phẩm, hàng hóa hiện có; - Đưa ra một phương pháp sản xuất mới; - Tiếp cận thị trường mới cho hàng hóa; - Phát triển nguồn cung cấp mới; - Đổi mới tổ chức, ví dụ như việc tạo ra thế độc quyền trên thị trường, hoặc phá vỡ thế độc quyền hiện có. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa trường đại học và viện nghiên cứu với DN trong linh vực ĐMST.Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề ĐMST của DN. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) đã đề cập đến mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học đóng vai trò quan trọng trong quá trình “ĐMST” của DN. Chính sự liên minh, liên kết này sẽ giúp DN, viện/trường có thể tận dụng tối đa các nguồn lực hiện có của mình, từ đó nâng cao được hiệu quả trong quá trình nghiên cứu, sản xuất kinh doanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh của chính mình.
Các viện/trường ngoài việc giảng dạy và truyền bá kiến thức, còn đóng 4 một vai trò lớn trong công tác NCKH cũng như thúc đẩy sự ĐMST, nâng cao sự phát triển của DN (Loet Leydesdorff và cộng sự, 2001). Có thể thấy, việc tham gia phối hợp với DN trong việc ĐMST từ phía viện/trường đóng một vai trò đáng kể trong việc giảm chi phí và tăng tính cạnh tranh. Các DN có thể giảm bớt chi phi trong việc tiếp cận các nhân tài phù hợp, trang thiết bị nghiên cứu và các sáng chế công nghệ mới bằng việc liên kết, tạo dựng mối quan hệ với các trường đại học/viện nghiên cứu (Geisler, E. Các trường đại học, viện nghiên cứu cũng có điều kiện tiếp xúc thực tiễn với các nhu cầu từ thị trường, thu được các lợi ích kinh tế từ phía DN và đầu tư nâng cấp cho các hoạt động nghiên cứu của chính mình (Geisler, E.
Tuy nhiên, để đạt được sự liên kết này, DN và các viện/trường cũng gặp không ít rào cản. Theo thống kê của Howells et al. (1998) thực hiện tại Vương quốc Anh, rào cản đầu tiên và quan trọng nhất trong việc xây dựng mối liên kết này chính là mục tiêu của 2 phía. Bên cạnh đó cũng có những khó khăn như về vấn đề tiếp cận được đối tác phù hợp, giữ mỗi liên hệ giữa cả 2 bên.
Các nghiên cứu về vai trò thúc đẩy ĐMST của Nhà nước Chính từ những khó khăn này, Mora-Valentin (2000) trong nghiên cứu của mình đã nêu lên vai trò cầu nối từ phía Nhà nước trong mối liên kết 3 bên Viện/trường – doanh nghiệp – nhà nước. Việc có thêm cầu nối là Nhà nước trong việc xây dựng mối liên kết sẽ giúp cho phía DN giảm được chi phí trong việc tìm kiếm viện/trường phù hợp, nhận được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước cho các hoạt động kinh doanh xuất phát từ các công trình nghiên cứu của viện/trường. Nhà trường cũng nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các chương trình của Nhà nước, dễ dàng hơn khi đưa các công trình nghiên cứu mới ra thị trường thông qua sự giúp đỡ từ phía Nhà nước. Nhà nước cũng từ mối liên kết này cũng nắm bắt rõ hơn được nhu cầu thị trường, năng lực của các viện/trường cũng như dễ dàng đưa ra được các chính sách KHCN phù hợp nhất.
Để nói về vai trò của nhà nước, Allan Afuah (2002) nhấn mạnh đến yếu tố cho ĐMST bên trong DN là phải có chiến lược tốt, cơ cấu tổ chức và các hệ thống 5 thích hợp cùng những con người phù hợp. Yếu tố bên ngoài DN là vai trò của chính phủ hỗ trợ cho ĐMST, bao gồm: bảo vệ tài sản trí tuệ, hỗ trợ tạo ra ý tưởng, xây dựng hạ tầng cơ sở bên ngoài DN, tạo thị trường cho sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ, huy động vốn cho nghiên cứu và phát triển công nghệ, chính phủ gương mẫu trong mua sắm sản phẩm mới, các quy định của chính phủ yêu cầu DN phải hoạt động lành mạnh, đào tạo lực lượng lao động, duy trì các nguyên tắc của kinh tế vĩ mô và duy trì ổn định chính trị để thu hút đầu tư vào ĐMST.