Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vai trò nhà nước trong chuyển đổi số ngành nông nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng vai trò nhà nước trong chuyển đổi số ngành nông nghiệp Hà Nội. Chương 4: Định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện vai trò nhà nước trong chuyển đổi số ngành nông nghiệp Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Theo Kortaba, 2017, số hóa và chuyển đổi số hoạt động của các doanh nghiệp đã và đang trở thành một xu hướng quan trọng trong việc định hình nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Peppard, 2016 cho rằng: Động lực thúc đẩy quá trình quá trình chuyển đổi số sẽ giúp cho các tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh để tiếp tục tồn tại và phát triển trong nền kinh tế biến động ngày càng nhanh chóng. Nghiên cứu của Catlin và cộng sự (tổ chức McKinsey), 2015 cho thấy, các doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp số hóa được kỳ vọng có mức tăng trưởng và tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh trong khoảng 5-10% trong vòng từ 3 đến 5 năm.
Trong khi đó, nghiên cứu của Vial, 2019 chuyển đổi số (digital transformation) là một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối. Chuyển đổi số cũng được khẳng định là cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệp bất kể quy mô và ngành nghề. Bharadwaj và cộng sự, 2013; Fitzgerald và cộng sự, 2014 cho rằng: thời gian gần đây, chuyển đổi số đã trở thành một chủ đề quan trọng trong cả giới học thuật và những nhà thực hành. Xét trên quy mô rộng, chuyển đổi số bao gồm những thay đổi sâu sắc diễn ra đối với xã hội và các ngành công nghiệp dưới tác động của công nghệ số (Agarwal và cộng sự, 2010; Majchrzakvà cộng sự, 2016).
Trên quy mô tổ chức, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra tính cần thiết phải xây dựng chiến lược, trong đó ứng dụng những 4 thành quả của chuyển đổi số nhằm cải thiện hiệu quả vận hành (Hess và cộng sự, 2016). Vial (2019) đã có một bài tổng hợp chi tiết các nghiên cứu về chuyển đổi số và các hướng nghiên cứu trong lĩnh vực này. Thông qua khảo cứu 282 bài viết khoa học về đề tài chuyển đổi số, tác giả đã xây dựng một khung lý thuyết tổng thể về các chủ đề và hướng nghiên cứu của đề tài. Tác giả đã nhấn mạnh vào tính phức tạp ngày càng tăng của môi trường vận hành bên trong các doanh nghiệp.
Đặc biệt với những tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin và truyền thông, máy tính, kết nối, đã giúp hình thành những dạng thức hợp tác mới giữa nhiều chủ thể khác nhau. Thực tiễn này tạo ra cơ hội rất lớn để các doanh nghiệp có thể đổi mới, ứng dụng công nghệ nhằm tác động lên từng khách hàng, doanh nghiệp, và xã hội. Khi nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số với mô hình kinh doanh, Bouwman & cộng sự, 2017 đã tập trung vào tác động của số hóa đối với hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu được triển khai thông qua điều tra 338 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Châu Âu có sử dụng dữ liệu lớn và và mạng xã hội trong hoạt động của mình.
Sau nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra rằng, phần lớn các ứng dụng dữ liệu lớn và mạng xã hội trong mô hình kinh doanh của doanh nghiệp được định hướng bởi chiến lược và các áp lực từ bên trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động tích cực của ứng dụng công nghệ số tới hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các ứng dụng liên quan tới dữ liệu lớn. Bản chất của chuyển đối số là sự hội tụ của 4 công nghệ đột phá: công nghệ điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (IoT), và trí tuệ nhân tạo (AI). Sự hội tụ này khiến cho phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của chuyển đổi số trở nên hết sức rộng lớn, do đó có nhiều cách nhìn và cách tiếp cận khác nhau.
Ở khía cạnh thực tiễn, theo Siebel, 2019, chuyển đổi số là phương tiện/công cụ hỗ trợ thay đổi một ngành nghề hay doanh nghiệp để tồn 5 tại và phát triển trong thời kỳ công nghệ số. Như vậy, chuyển đổi số sẽ khác với số hóa hay áp dụng công nghệ số. Cần phân biệt sự khác nhau giữa công nghệ số và chuyển đổi số. Công nghệ số: sử dụng các dữ liệu số hóa để thực hiện công việc nhanh và tốt hơn thông qua các cơ hội và mô hình kinh doanh mới; trong khi chuyển đổi số: là quá trính tái cấu trúc nhằm tạo ra phương thức, mô hình mới, số hóa là một giai đoạn quan trọng trong chuyển đổi số nhằm chuyển đổi các thông tin tương tự thành thông tin số.
Chuyển đổi số không chỉ diễn ra mạnh mẽ ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hay dịch vụ mà các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp cũng đã chú ý và tiến hành các hoạt động chuyển đổi số mạnh mẽ. Khi nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin mới tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp nhỏ, Premkumar & Roberts (1999) đã khẳng định những thay đổi trong công nghệ thông tin và truyền thông mang lại cả cơ hội và thách thức cho những doanh nghiệp nhỏ tại vùng nông thôn. Nghiên cứu được triển khai tại khu vực Trung Tây của Hoa Kỳ thông qua phỏng vấn sâu 78 doanh nghiệp. Mô hình của nghiên cứu bao gồm 01 biến phụ thuộc là quyết định ứng dụng công nghệ, và 10 biến độc lập được chia làm ba nhóm bao gồm: Đặc tính của công nghệ mới, đặc tính của tổ chức/doanh nghiệp, và đặc điểm của môi trường kinh doanh.
Thông qua phân tích định lượng dựa trên kết quả khảo sát, các tác giả đã chỉ ra được nhân tố tác động quan trọng nhất tới quyết định ứng dụng công nghệ mới tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp là lợi thế tương đối của công nghệ mới, sự ủng hộ của nhà quản lý cấp cao, quy mô của doanh nghiệp và áp lực cạnh tranh từ môi trường bên ngoài. Uwe & cộng sự, 2016 cho rằng, việc áp dụng các công nghệ số hóa trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn, mặc dù tỉ lệ người dân nông thôn được tiếp cận internet ở mức cao. Theo các tác giả, một 6 số khó khăn có thể kể tới bao gồm thiếu tiếp cận thông tin, thiếu kết nối, sự phân mảnh của thị trường, thiếu các mô hình kinh doanh bền vững về tài chính để thu hút các nhà đầu tư tư nhân trong việc cung cấp các giải pháp sáng tạo cho nông nghiệp quy mô nhỏ. Trước những khó khăn đó, các quốc gia cần nỗ lực hơn nữa trong việc thu hẹp khoảng cách về tiếp cận hạ tầng số hóa ở vùng nông thôn; bên cạnh các can thiệp để hỗ trợ sự phát triển và ứng dụng của công nghệ, cần tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng như điện, nước sạch, và nâng cao trình độ của người nông dân.
Các chính sách về công nghệ thông tin và các chính sách về môi trường kinh doanh nói chung cần phải được xem xét và cải thiện theo hướng linh hoạt và sáng tạo hơn để tạo tiền đề cho công nghệ số hóa có thể được phổ biến và áp dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), 2017, đã nhận định cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể mang lại những tác động tích cực cho ngành nông nghiệp của các nước đang phát triển, nơi ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng tương đối cao trong nền kinh tế.0, sự phát triển diễn ra đồng thời với phát triển của thế giới về công nghiệp 4.0 là giai đoạn ứng dụng mạnh mẽ các thiết bị cảm biến kết nối internet (IoT), công nghệ đèn LED, các thiết bị bay không người lái, robot nông nghiệp và quản trị tài chính trang trại thông minh. Trong ngắn hạn, đã có những bằng chứng cho thầy internet giúp cải thiện đáng kể năng suất lao động, lợi nhuận và tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Ví dụ như thông qua sử dụng điện thoại thông minh, người nông dân có thể tiếp cận tốt hơn với các thông tin về giá cả thị trường, thời tiết, và các kiến thức về cải tạo đất đai, hạt giống, phân bón…(WEF và ADB, 2017).
Trong khi đó, Mathiew và cộng sự, 2018, cho rằng ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ giúp ngành nông nghiệp giải quyết những thách thức mà ngành đang 7 phải đối mặt như thay đổi về nhân khẩu học, khan hiếm các nguồn tài nguyên, biến đổi khí hậu và mất cân bằng an ninh lương thực. Các tác giả cũng cho rằng, nông nghiệp 4.0 sẽ khác hoàn toàn với nông nghiệp truyền thống về phương thức canh tác và kinh doanh. Trong bối cảnh đó, các chính phủ có thể lựa chọn hai hình thức can thiệp: (1) chính phủ đóng vai trò như là người thúc đẩy và tạo điều kiện cho công nghệ 4.0 phát triển; hoặc (2) tập trung vào các mục tiêu đề ra. Khi nghiên cứu về các tác động của số hóa trong nông nghiệp đối với phát triển bền vững của khu vực nông thôn tại Nga, Kuzmich, 2021 thấy rằng, xu hướng gia tăng dân số sẽ làm gia tăng nhu cầu thực phẩm từ 1,5 đến 1,7 lần tới năm 2050.
Nhằm giải quyết vấn đề này, tác giả đã chỉ ra rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông và trung tâm của quá trình sản xuất nông nghiệp là yêu cầu tất yếu. Ứng dụng công nghệ ICT tác động tới sản xuất nông nghiệp trên hai phương diện là nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu thất thoát và lãng phí. Theo các tác giả, một số công nghệ số đã được áp dụng một cách hiệu quả trong nông nghiệp như hệ thống định vị, thiết bị điều khiển từ xa, hệ thống canh tác chính xác và máy bay không người lái.