Chương I: Cơ sở lý luận về vai trò phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua giám sát, phản biện xã hội - Chương II: Thực trạng vai trò phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua giám sát, phản biện xã hội - Chương III: Quan điểm, giải pháp phát huy vai trò phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua giám sát, phản biện xã hội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THÔNG QUA GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI 1.1 Khái niệm tham nhũng Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một định nghĩa chung về tham nhũng được thừa nhận và áp dụng một cách chính thức và rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption – UNCAC) văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản nhất về vấn đề này hiện nay không đưa ra một định nghĩa về tham nhũng. Thay vào đó, UNCAC chỉ xác định một tập hợp những hành vi cần được coi là tham nhũng.
Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do những nỗ lực xây dựng một định nghĩa chung về tham nhũng luôn gặp phải những khó khăn xuất phát từ sự khác biệt về nhận thức, quan điểm giữa các quốc gia. Những khác biệt này không chỉ liên quan đến các khía cạnh về pháp lý, văn hoá, mà đôi khi là cả về khía cạnh chính trị của tham nhũng. Mặc dù vậy, từ trước đến nay đã có một vài định nghĩa về tham nhũng được nêu trong các từ điển có uy tín hoặc do một số tổ chức quốc tế công bố, mà có thể sử dụng để tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và thực tế hoạt động phòng, chống tham nhũng. Theo Ngân hàng thế giới (World Bank – WB), tham nhũng là “hành vi lạm dụng quyền lực công để thu lợi ích riêng[41].
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International – TI) – một tổ chức phi chính phủ quốc tế hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực chống tham nhũng đưa ra định nghĩa tham nhũng là “hành động lạm dụng quyền lực được giao để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên công quyền, có thể là các nhà chính trị hoặc viên chức[37]. 9 Theo Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank – ADB), tham nhũng là “hành động lạm dụng chức vụ để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư, hoặc để tạo cơ hội cho những kẻ khác làm như vậy[36]. Ở Việt Nam, theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[30]. Như vậy, nhìn chung định nghĩa tham nhũng của các tổ chức quốc tế và định nghĩa của Việt Nam về cơ bản là tương thích với nhau và có nét tương đồng.
* Bản chất của tham nhũng Bản chất của tham nhũng là những hành vi phi nghĩa, phi pháp thể hiện chủ yếu qua các khía cạnh sau: thứ nhất nhằm mục đích thu lợi riêng (cho cá nhân hay người thân của người thực hiện); thứ hai, chủ thể của hành vi tham nhũng thông thường là những chủ thể đặc biệt, có chức quyền hay vị thế trong xã hội. Bản chất của tham nhũng gắn liền với sự lạm dụng quyền lực, là sự tha hoá của quyền lực – một hiện tượng có tính chất quy luật xét trên phương diện tâm lý học hành vi của loài người. * Hậu quả của tham nhũng Tham nhũng có hậu quả to lớn về nhiều mặt. Thứ nhất, tham nhũng làm kéo lùi sự tăng trưởng kinh tế, làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Đối với nhà nước, tham nhũng gây thất thoát, giảm nguồn thu vào ngân sách của nhà nước. Đối với doanh nghiệp, thiệt hại kinh tế trực tiếp từ tham nhũng thể hiện ở chỗ họ phải trả những “chi phí bôi trơn, còn thiệt hại gián tiếp xảy ra khi họ phải đối mặt với sự nhũng nhiễu gây khó khăn của các 10 cơ quan, nhân viên công quyền. Thiệt hại kinh tế của các doanh nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng “nản lòng” của các chủ đầu tư và có xu hướng rút vốn đầu tư vì tham nhũng, kéo theo ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. Đối với các cá nhân, người dân, tham nhũng được ví như một dạng “thuế không chính thức” đánh vào họ, vì mọi chi phí sản xuất, kể cả chi phí phải trả do tham nhũng, sẽ được các doanh nghiệp tính vào giá thành sản phẩm để bán cho người tiêu dùng.
Trong việc này, những chủ thể bị ảnh hưởng nặng nề nhất lại chính là những người nghèo – nhóm vốn đã chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Thứ hai, tham nhũng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến bất bình đẳng, chia rẽ và xung đột xã hội. Tham nhũng góp phần phân chia dân chúng trong xã hội nói chung, các tầng lớp trong xã hội nói riêng thành hai nhóm giàu, nghèo, trong đó nhóm chủ yếu chỉ hưởng thụ mà không phải lao động còn nhóm kia vật lộn làm việc để kiếm sống. Trong những xã hội có sự hoành hành của tham nhũng, khoảng cách giữa các nhóm giàu, nghèo thường tăng lên rất nhanh, từ đó thổi bùng lên lòng đố kỵ, sự nghi ngại, tính ghen ghét và tư tưởng thù địch giữa các nhóm.
Hậu quả là phá vỡ tình đoàn kết trong cộng đồng và khiến cho an ninh, trật tự xã hội bị đảo lộn. Tham nhũng cũng khiến cho đạo đức xã hội bị suy thoái. Không chỉ các công chức, viên chức nhà nước, lối sống của người dân nói chung cũng trở lên ích kỷ, thực dụng hơn, trong khi các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp như sự trung thực, tính đoàn kết ngày càng giảm sút trong bối cảnh tham nhũng. Nói cách khác, tham nhũng góp phần nuôi dưỡng và thúc đẩy những niềm tin, thái độ và hành vi tiêu cực của công chúng trong các quan hệ xã hội.
Thái độ tiêu cực đó bao gồm sự thiếu tôn trọng pháp chế; mất lòng tin, thậm chí chống đối các cơ quan và công chức nhà nước; sự thờ ơ với các vấn đề chung của đất nước; sự gia tăng thái độ và hành động ích kỷ, cá nhân, bất chấp những hậu quả gây ra với cộng đồng và với người khác. Tham nhũng còn tàn phá hệ 11 thống cơ sở hạ tầng về văn hoá, xã hội của các quốc gia. Trong bối cảnh tham nhũng, các cơ sở giáo dục và chăm sóc y tế thường rơi vào khủng hoảng về tổ chức hoạt động và về chất lượng dịch vụ, bởi chúng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương trước vấn nạn này. Thứ ba, tham nhũng tàn phá nền pháp chế khiến người dân mất lòng tin, chỉ trích và thậm chí chống đối các cơ quan và công chức nhà nước.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đều gặp khó khăn vì không được người dân, các doanh nghiệp và các chủ thể khác trong xã hội ủng hộ. Không những vậy, tham nhũng còn dẫn đến những xung đột ngay trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Sự mờ ám, thiếu công khai, minh bạch và vụ lợi trong quá trình ra quyết định là nguồn gốc của tình trạng bè phái, mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ các cơ quan nhà nước. Hậu quả là các cơ quan nhà nước có thể bị tê liệt hoặc hoạt động kém hiệu quả, kéo theo những hệ luỵ tiêu cực về quản lý xã hội.
Ngoài ra, tham nhũng làm xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với sự quản lý xã hội và điều hành nền kinh tế của chính quyền. Điều này cản trở chính phủ xây dựng và thực thi các chương trình kinh tế lớn mà có tác động đến sự phát triển về mọi mặt của đất nước. * Nguyên nhân của tham nhũng Tham nhũng là một vấn đề rộng và phức tạp, có rất nhiều nguyên nhân gây ra tham nhũng như: quản lý nhà nước yếu kém, khung pháp luật về phòng, chống tham nhũng thiếu đầy đủ hoặc không được thi hành hiệu quả; cơ chế và hệ thống cơ quan phòng, chống tham nhũng quốc gia chưa được xây dựng hoặc hoạt động hình thức; khủng hoảng chính trị, xã hội, kinh tế ảnh hưởng tới đạo đức của đội ngũ công chức; lương của đội ngũ công chức quá thấp, không đủ nuôi bản thân họ và gia đình; thể chế chính trị và truyền thống văn hoá hàm chứa những yếu tố ủng hộ hay khoan dung với hành vi tham nhũng. Nội dung, ý nghĩa hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với phòng, chống tham nhũng 1.1 Khái quát về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài”[27]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động[27]. Sự hình thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có cơ sở chính trị, xã hội sâu sắc Kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã chủ trương đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc.