MỞ ĐẦU Phẫu thuật cắt khối tá tụy là một trong những các phẫu thuật lớn thường xuyên được thực hiện ở các trung tâm lớn về gan mật tụy - tiêu hóa. Với sự tiến bộ về kỹ thuật mổ cũng như quản lý bệnh nhân tiền phẫu và hậu phẫu, tỷ lệ tử vong của phẫu thuật cắt khối tá tụy ở các trung tâm lớn đã giảm xuống còn chưa tới 3%.1,2 Tuy nhiên, biến chứng rò tụy sau mổ (RTSM) cắt khối tá tụy vẫn xảy ra với tần suất tương đối cao; một số nghiên cứu đã cho thấy tần suất này là hơn %.3-5 RTSM không những làm kéo dài thời gian nằm viện cũng như chi phí điều trị, mà RTSM còn liên quan tới các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng huyết, xuất huyết trong ổ bụng; RTSM có tỷ lệ tử vong là 1%, và con số này tăng lên tới 25% ở bệnh nhân RTSM độ C.6 RTSM xảy ra khi có dịch tụy rò từ diện cắt nhu mô tụy sau mổ cắt khối tá tụy. Rò tụy được xác định theo tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu quốc tế về rò tụy khi dịch dẫn lưu từ hậu phẫu ngày 3 trở đi có nồng độ amylase lớn hơn lần giá trị bình thường trên của nồng độ amylase huyết thanh.3 Cũng theo tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu quốc tế về rò tuỵ , để tiện cho việc quản lý và dự phòng, rò tụy sau mổ được phân thành ba độ với mức độ năng tăng dần: rò tụy sinh hóa, rò tụy grade B, rò tụy grade C. Trong đó, rò tụy grade B và C được gộp chung thành một nhóm được gọi là “Rò tụy có ảnh hưởng lâm sàng” (RTCAHLS).
Trong các công cụ đánh giá nguy cơ rò tụy hiện nay, một trong những thang điểm phổ biến nhất là điểm FRS (Fistula Risk Score – Thang điểm nguy cơ rò tuỵ) Thang điểm này dựa trên các thành tố: đường kính ống tụy chính, độ cứng của nhu mô tụy theo đánh phẫu thuật viên (PTV) trong mổ, lượng máu mất trong mổ, kết quả bệnh học; nhờ đó các nhà ngoại khoa có thể. 2 ước lượng được nguy cơ RTCAHLS là không đáng kể ( điểm), thấp (1-2 điểm), trung bình (3- điểm) hay cao (7- điểm). Việc tiên lượng được nguy cơ rò tụy cung cấp thông tin quan trọng giúp cho các nhà ngoại khoa lên kế hoạch dự phòng rò tụy sau mổ. Bệnh nhân với tiên lượng rò tụy sau mổ thấp có thể không cần dẫn lưu ổ bụng hoặc rút ống dẫn lưu sớm.7,8 Tuy nhiên, có thể thấy rằng các thành tố của thang điểm này đều được đánh giá trong mổ và sau mổ, và các thành tố như độ cứng của tụy được đánh giá chủ quan bởi các PTV Do đó, một công cụ chính xác, khách quan và giúp tiên lượng được nguy cơ rò tụy vào thời điểm trước phẫu thuật là cần thiết.
Một số đặc điểm hình thái trên hình ảnh học trước mổ được cho rằng có liên quan tới nguy cơ rò tụy, bao gồm độ dày tụy, đường kính ống tụy chính, thể tích tụy còn lại sau mổ.9-11 Tụy nhiễm mỡ và mức độ xơ hóa của tụy được báo cáo là liên quan tới độ cứng của nhu mô tụy, do đó liên quan tới việc tăng nguy cơ của RTSM.12,13 Nhiều nghiên cứu về giá trị của chụp cộng hưởng từ trong tiên lượng rò tụy sau mổ đã được thực hiện, liên quan tới tỷ lệ tín hiệu trên xung T W, độ cứng của tụy trên chụp cộng hưởng từ đàn hồi hay mức độ bắt thuốc của nhu mô tụy trên chụp cộng hưởng từ động học.14-16 Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của siêu âm đàn hồi tụy trong đánh giá rò tụy sau mổ.17 Tuy nhiên, nhìn chung chụp cộng hưởng từ là một phương tiện có chi phí khá cao, yêu cầu trang thiết bị máy móc hiện đại, cũng như chưa được sử dụng rộng rãi trong đánh giá trước mở cắt khối tá tụy. Siêu âm đàn hồi dù tiện dụng và có thể cung cấp dữ liệu trên thời gian thực, lại phụ thuộc vào trình độ của bác sĩ siêu âm, từ đó làm giảm đi tính khách quan Hiện nay, chụp cắt lớp vi tính là một công cụ khách quan và khá sẵn có ở các trung tâm lớn, đồng thời đa số bệnh nhân có chỉ định cắt khối tá tụy đều được chỉ định chụp cắt lớp vi tính ổ bụng trước mổ. Thời gian thực hiện cuộc chụp cắt lớp vi tính cũng nhanh hơn đáng kể so với chụp cộng hưởng từ. 3 thế giới đã có nhiều nghiên cứu về giá trị của chụp cắt lớp vi tính trong tiên lượng rò tụy sau mổ cắt khối tá tụy.
Một số nghiên cứu đã báo cáo các đặc điểm hình ảnh của nhu mô tụy trên chụp cắt lớp vi tính như đường kính ống tụy chính, đậm độ trung bình của nhu mô tụy hay mức độ bắt thuốc của nhu mô tụy trên CCLVT có thể giúp dự báo nguy cơ của rò tụy sau mổ cắt khối tá tụy.7,10,18-22 Ở nước ta hiện nay, các báo cáo chủ yếu tập trung chủ yếu vào các đặc điểm trong mổ và xét nghiệm máu để dự báo rò tụy sau mổ, mà ít các nghiên cứu về vai trò của chụp cắt lớp vi tính. Vậy, “đặc điểm hình ảnh học tụy trên chụp cắt lớp vi tính trước phẫu thuật cắt khối tá tụy là gì?” và “giá trị của các đặc điểm hình ảnh học tụy trong dự báo rò tụy sau mổ cắt khối tá tụy là như thể nào?”. Để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Vai trò của hình ảnh học tụy trên chụp cắt lớp vi tính trong dự báo rò tụy sau mổ cắt khối tá tụy” với mục tiêu: 1. Mô tả các đặc điểm hình ảnh của tụy trên chụp CLVT trước phẫu thuật cắt khối tá tụy.
Xác định giá trị của các đặc điểm hình ảnh của tụy trên chụp CLVT trước mổ trong dự báo rò tụy sau mổ cắt khối tá tụy. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu học tụy tạng Tụy là một trong những tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể, với chức năng ngoại tiết lẫn nội tiết: tiết các enzyme giúp tiêu hóa lipid, carbohydrates và protein; tiết insuline và glucagon giúp chuyển hóa glucose; kiểm soát nhu động và chức năng của đường tiêu hóa trên. Tụy ở người bình thường có màu vàng, bờ chia múi.
Cấu trúc của tụy (cứng hay mềm) có ảnh hưởng lớn trong phẫu thuật tụy: tụy càng cứng, khả năng rò tụy sau mổ càng thấp.23 Ở người lớn, chiều dài của tụy là 12-15 cm, dày hơn ở đầu và mỏng hơn ở thân và đuôi. Thể tích trung bình là 70–80 cm,3 và dao động trong khoảng khá lớn (40–170 cm3). Thể tích tụy có xu hướng lớn hơn ở nam, thể tích tụy cũng tăng theo tuổi với đỉnh ở thập niên thứ 4. Từ 60 tuổi trở đi, tuyến tụy bắt đầu teo nhỏ, các mô liên kết chứa mỡ bắt đầu thay thế các tế bào ngoại tiết.
Đường kính ống tụy có xu hướng nhỏ hơn ở bệnh nhân đái tháo đường. Vị trí Tụy là tạng nằm sau phúc mạc, cố định vào thành bụng sau, nằm vắt ngang cột sống thắt lưng L2 từ khung tá tràng đến rốn lách, chếch lên trên sang trái. Phần lớn tuỵ nằm ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, một phần nhỏ nằm dưới mạc treo này.24 Một lớp mô liên kết lỏng lẻo nằm ngay phía sau của tụy (được gọi là mạc Treitz đối với vùng đầu tụy và mạc Toldt với vùng thân và đuôi tụy) với mạch máu nuôi tụy ở bên trong lớp mô liên kết này.1 Hình thể ngoài mặt trƣớc của tụy. Hình thể ngoài Tụy được chia làm bốn phần bao gồm đầu, cổ, thân và đuôi tụy.
Đầu tụy nằm bên phải so với đường giữa, đây là phần dày và lớn nhất của tụy. Bờ trên tụy liên quan với tá tràng D1, bờ dưới đầu tụy liên quan với tá tràng D3. Mỏm móc tụy là phần của đầu tụy nằm phía sau bó mạch mạc treo tràng trên. Về mặt phôi thai học, mỏm móc tụy có nguồn gốc khác biệt: Nụ tụy bụng phát triển thành phần dưới của đầu tụy và mỏm móc tụy, nụ tụy lưng phát triển thành thân và đuôi tụy.27 Trên mặt cắt sagittal, mỏm móc tụy cùng với tá tràng.
6 D và tĩnh mạch thận trái nằm giữa động mạch mạc treo tràng trên (ở trước) và động mạch chủ bụng (nằm sau).2 Mỏm móc tụy ở mặt cắt ngang, và tƣơng ứng trên phim CCLVT. Nguồn: Susan Standring, 202128 Cổ tụy dài khoảng 2 cm, là phần nối đầu và thân tụy Đây là phần nằm trước nhất của tụy, và được định nghĩa là phần tụy nằm trước hợp lưu của tĩnh mạch cửa. Cổ tụy nằm dưới so với hang vị. Nhánh tá tụy trước trên của động mạch vị tá sẽ chạy qua vị trí nối đầu và cổ tụy.28 Thân tụy sẽ nhỏ dần theo chiều từ cổ tới đuôi tụy.
Mặt trước thân tụy có mạc treo tràng ngang bám vào, phía trên chỗ bám này có túi mạc nối, ngăn cách tụy và dạ dày. Mặt sau thân tụy nằm phía trước động mạch chủ bụng, gốc của động mạch mạc treo tràng trên, tuyến thượng thận trái, chân hoành trái, cực trên thận trái. Đuôi tụy là phần hẹp nhất, bề dày từ 1.5 cm ở người lớn và nằm giữa dây chằng thận lách và rốn lách.28 Khác với đầu và. 7 thân tụy bị cố định vào thành bụng bởi mạc dính tá tụy, đuôi tụy là phần có thể di động.
Ống tụy Ống tụy chính (còn gọi là ống Wirsung) bắt đầu từ đuôi tụy chạy đến đầu tụysau khi qua cổ tụy chạy chếch xuống dưới và ra sau hợp với ống mật chủ thành bóng Vater trong thành tá tràng D2 đổ vào tá tràng. Phần tận của ống tụy chính có một vài lớp niêm mạc, có vai trò như van một chiều giúp ngăn sự trào ngược dịch tụy. Chiều dài trung bình của kênh chung mật tụy khoảng từ 5-7 mm. Kênh chung mật tụy dài bất thường có thể đi kèm với giãn ống mật chủ bẩm sinh và liên quan tới trào ngược dịch mật tụy và nguy cơ ung thư đường mật.29 Đường kính của ống tụy chính khá thay đổi, điều này có ý nghĩa quan trọng trong phẫu thuật cắt tụy.
Đường kính ống tụy chính khoảng 3mm tại đầu tụy, 2mm tại thân tụy và 1mm ở đuôi tụy; đường kính ống tụy có khẩu kính lớn hơn ở người 50 tuổi trở lên. Có khoảng từ 15 đến 20 nhánh đổ vào ống tụy chính dọc thân và đuôi tụy.28 Ống tụy phụ (ống Santorini) dẫn lưu dịch tụy từ phần trước trên của đầu tụy và thường hợp lưu với ống tụy chính ở vị trí cổ tụy.