Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Dừ liệu số irong pháp luật Việt Nam Chương 3: Nhừng thách thức trong cơ chê điêu chỉnh của pháp luật Việt Nam đôi với dừ liệu so hiện nay Chương 4: Tiếp cận chức năng đối với khung pháp lý điều chính dừ liệu số: các vấn đề lý thuyết và khá năng áp dụng ớ Việt Nam Chương 5: Kct luận và gợi ý chính sách 10 CHƯƠNG II DỮ LIỆU SÓ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM I. Nguồn gốc hình thành các lĩnh vực quãn lý và quy tắc quản lý dữ liệu “Tri thức là sức mạnh”. Trong ngừ nghía Hán Việt, cà “tri" lân “thức” đêu mang nghía “bict”. Bict, nghía là nắm thòng tin trong tay.
Có thông tin, người ta tăng hiêu biết. Thiếu thông tin, người ta mù mờ và dề đi đen nhừng quyết định sai lầm. Trong xã hội hiện đại, việc nắm bat thông tin nhanh chóng đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định, góp phần dịnh hình hành vi xư sự của con người với nhau và hình thành xã hội văn minh. Song sự hình thành cua các quy tắc xử sự xoay quanh việc thu thập, lưu trừ và xử lý thông tin có nguôn gôc sâu xa hơn trong lịch sừ hình thành cùa nhân loại.
Thực chất, không cần đợi đến lúc xuất hiện chừ viết, nhu cầu ghi chép, hay kí /ục, dưới những hình thức muôn hình vạn trạng đã xuất hiện xuyên suốt từ đông sang tây, hiện diện ờ khấp mọi nen văn minh và gan liên với quá trình khai sáng của nhân loại. Là một sinh thê có khá năng tự-ỷ thức về chính mình, con người ta luôn tìm cách lưu giừ dấu tích về bán thân và cuộc sống xung quanh dưới hình thức này hay hình thức khác. Các thành tựu khào cỏ đà phát hiện mâu thông tin dân sự xưa nhất còn sót lại đen nay là “Kushim”, một cái ten xuất hiện trên phiến đất sét từ thời Ưruk (khoang 3400-3000 năm trước Công nguyên. Cái tên xuất hiện trong một đoạn văn ban ghi chép nội dung và số lượng giao dịch đối với đại mạch - một thứ hàng hóa nông sán phò biến cùa nền văn minh lúa nước Lường Hà.
Nội dung của văn ban đại khái là “29,086 đơn vị đại mạch 37 tháng Kushim”. Theo các nhà nghiên cứu, cái tên “Ku-Shim” rât có thê là tên riêng cua một người đàn ông Sumer chuyên phụ trách việc kiêm đếm hàng hóa, song cùng có quan diêm cho ràng đây là tên gọi cùa một chức danh công vụ nào đó trong nền văn minh Sumer. Ong Yuval Harrari đà giâi nghĩa câu trên thành “Đà nhận tông cộng 29,086 dơn vị đại mạch trong vòng 37 tháng. Còn theo Nissen và cộng sự, Kushim rất cỏ the là chức danh chi người có chuyên môn trong ngành kê toán, vì nội dung trước sau cua văn ban này liên quan đôn việc kiêm đêm hàng hóa và đôi chiêu tôn kho - là nhừng dâu hiệu xưa nhât cùa nghê kê toán theo cách hiêu của chúng ta ngày nay (Nissen, Damerow, Englund, & Englund, 1993, 32-46, 105).
Neu nhưng phân tích vừa nêu là đáng tin cậy, thì việc thu thập, lưu trừ bảo quân và sử dụng dừ liệu đà xuất hiện như một sản phẩm tự nhiên cua đời sống dân sự. Khi tư hừu xuất hiện, người ta sàn xuất và trao đôi hàng hỏa, cùa cai tạo ra làm gia tăng khối lượng tư bàn và được đưa vào trao đoi nham lối đa hóa lợi ích cho cuộc sổng từng người. Cùng với đó, xuất hiện nhu câu quàn lý khối lượng lài sàn tích trù’ thông qua các công cụ sồ sách, chứng từ, ghi nhận thông tin. Từ giao lưu kinh te, xuất hiện nhu cầu lưu giữ để thông tin có thế được lần lại, tra cứu và phục vụ nhu cầu quàn lý, dối chiếu trong tương lai dưới hình thức dừ liệu.
Hiểu theo cách này, ỉưu trừ thông tin và khai thác giá trị thông tin cùa dữ liệu được lưu trữ găn liên với nhu câu kinh te, xà hội của loài người. Từ tạc, đèo, khấc, ghi, chú, kí hiệu, kí âm, kí họa, cho đên rất gân đây là “ghi âm”, “ghi hình”, và “nhập liệu”, đều là nhừng hành vi gan liền với việc ki lục thông tin thành dừ liệu đê phục vụ 12 cho việc lưu trừ, tra cứu. Sự xuất hiện của các công cụ mới trong lưu trừ và tư duy giúp việc nhập liệu trờ nên nhanh và dề dàng hơn. Có thể phân chia sự xuất hiện cúa công nghệ lưu trừ làm nhiều giai đoạn, gan liền với các sự kiện lịch sử lớn cũa loài người.
Trong số các phát kiến lưu trữ, có the ke đến the tre (thời diem ra dời còn tranh cài, nhưng không sớm hơn thời nhà Thương), giấy (ra đời vào năm 105 ờ Trung Hoa), da, phiến đất sét, sách, máy tính, vi mạch, bộ nhớ, V. Đi kèm với nhưng phương tiện lưu trừ mới là những hình thức nhập liệu hiện đại hơn và dề tiếp cận với người dùng cá nhân hơn. Nêu ờ thời cô đại, đâu bút lông mêm mại đã góp phân ghi chép những khuynh đâo của triêu đại, thì bước sang kỉ nguyên máy tính, sự lên ngôi cúa mạng internet và các thiêt bị thông minh đã kích hoạt sự chia sé liên tục cua từng mâu thông tin trong đời sống ngày thường cùa mỗi người. Mạng xà hội dằn thê chồ nhà văn hóa làng xà đê trờ thành nơi mọi người quần tụ và chia sê từng mâu thông tin nhỏ diễn ra xung quanh minh.
Một khi được nhập vào thì thông tin trờ thành một hình thức ton lại khác: dừ liệu. Khi công nghệ càng hiện đại và cá nhân hóa, thì lượng dừ liệu được kí lục, lưu trữ và chia sé càng di sâu hơn vào tiêu tiêt. Dừ liệu vê đời sông riêng của từng cá nhân được ghi chép và chia sé nhanh chóng hơn, cũng đông nghía với việc loài người đứng trước nguy cơ đánh mất những hàng rào xà hội cuối cùng bảo vệ cho đời song riêng tư cùa mình. Bẽn cạnh nhừng động lực kinh tế - xã hội, động lực mang tính chính trị cũng đã góp phần lạo nên các nguyên tắc xứ sự xung quanh công tác thu thập, lưu trừ và xứ lý dừ liệu trong dòng cháy lịch sử.
Từ Tả Khâu Minh đen Tư Mã Thiên và các sư quan đời sau, vice ghi chép sự kiện và học thuộc các điên cố xưa đê “ôn cô, tri tân" đà góp phần tạo nên một nền văn hiến độc đáo ờ khu vực Đông Băc Á và Đông A. Nêu bên the giới phương Tây, toàn bộ nền văn hiến Hy-La được xây dựng trên sự hiỗu biết về xứ Địa Trung Hài cô qua giọng kể sử lôi cuốn song không kém phần hoang đường của Thucydides; thì bên kia thế giới, nền văn minh Á Đông đã dược biết đến sớm nhất qua lời tường thuật lạnh lùng, song chin chu ve kĩ thuật biên niên, thông kê, lại thâm đâm hơi thờ triêu đại của Tư Mà Thiên. “Thông cô kim chi biên", tuyệt tác Sử ký cùa Tư Mã Thiên đà mờ đầu cho Nhị thập tứ sứ, hai mươi bốn bộ sử ghi lại sự biến thiên xuyên suốt mọi triều đại cua Tâu. ơ một phạm vi rộng lờn hơn, đoi với nền văn hóa Ả Đông, Sử Ký chính là mầu mực, là khuôn bán đâu tiên mờ đầu cho kì thuật chép sử trong cã một nền văn minh Đông Ả (Ruskola, 2012).
Không những sáng tạo ra nét và chừ tượng hình, người Trung Hoa xưa còn có công phát kiến ra “vãn phòng tứ bao": bút, nghiên, mực, giây. Khi đã săn có nhùng công cụ tuyệt vời hô trợ cho việc ghi chép, văn truyền khâu tự nhiên sè được ghi lại thành tư liệu và được lưu trữ theo những quy chuẩn nghiêm ngặt đỗ truyền cho hậu the. Giấy, dù làm từ da thú hay từ vỏ cây, đều dễ âm, mốc, dề mục và dễ cháy. Vì giấy khó bào quản hơn đất, đá, quy trình lưu trừ, bào quan lài liệu đà được xác lập thành những bộ quy tắc chặt chõ và dược giao cho các viên quan đặc trách công việc này.
Ngành lưu trừ, với những quy tăc nghê nghiệp rât đặc thù và nghiêm cân, đà ra đời như một hệ luận tât yêu từ nhũng động lực chính trị của các triêu đại ơ khu vực Đỏng A. Trước nhừng thực tế đó, pháp luật về dừ liệu phài vừa đâm bào quá trình lưu trừ toàn diện, đúng đắn và tra cứu được khi cần thiết, nhưng cũng phải ngăn chặn nhũng mưu đồ tiếp cận, ihay đôi và xóa sô tùy tiện, vô căn cứ. Tiếc thay, cô luật Việt Nam chưa hãn đã hệ thông hóa một cách 13 đúng mức các quy định pháp luật về công tác sao lục, lưu trữ thông tin. Song rái rác đó đây, có thế nhận thấy nhừng điêm đặc sắc về nguyên lac kí lục, lưu trừ dừ liệu trong xà hội đương thời.
• về quyền tiếp cận, thay đôi và tiêu hủy các dữ’ liệu này, cô luật chứa những quy định nghiêm ngặt về bào vệ sách, vờ, thư lịch Ihuộc sờ hữu của hoàng tộc cầm quyền. Chăng hạn, sách vờ được lưu trừ trong quốc khố hoàng gia, được liệt vào hạng “dồ ngự dụng'" thì thường dân không dược động vào, nếu không se phạm phai tội Đại bất kính (§2.6, Phân Đanh Lệ, Quôc Triêu Hình Luật, Hậu Lê). Bên cạnh dó, người thường cũng không thê tiêp cận quôc khô bời nhùng quy định vô cùng nghiêm ngặt vê vệ câm (tham kháo §6, Vệ Cấm, QTHL). Tuy nhiên, liên quan đến công tác đăng bạ, hộ tịch, ta phát hiện văn hóa kí lục, lưu trừ thông qua hệ thống số sách và nhập dừ liệu qua quy định về đăng ký, đăng bạ vào, ra kinh thành.
• về mặt sô sách hộ tịch, những quy định về dừ liệu dân cư trong QTHL tó ra nghiêm ngặt và the hiên nguyên tắc thông tin đúng sự thật từ rất sớm. Chăng hạn, Điều 98 Chương Vi Chê quy định, đôi với các tờ trạng, sô sách tâu lên, các quan sánh quan viện phái biên rõ năm, tháng và ngày giao cho viên thuộc lại đôi chiêu, và việc lưu trữ, lưu chuyên và đối chiếu phải thực hiện xong trong thời hạn quy định, không được nỗ hà. Bên cạnh đó, các xã quan làm sô hộ khâu mà khai sót so dân đinh thì phái tội (§2, Hộ Hôn, QTHL). Nhai lại ờ cấp sãnh hay viện mà khai thêm hoặc khai bót số dân trong sô hộ tịch so với số dân thực sự tại địa phương thì phái tội (§4, HH, QTHL).
Neu khai dân đinh thành chức sắc thì phạt 70 trượng, người dân đinh được khai đó cùng chịu 60 trượng, biếm hai tư và bị bắt lao dịch. Tóm lại, việc lưu trừ thông tin thành dừ liệu là sán phầm tự nhiên cùa đời sống dân sự và kinh te.