phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương, 5 tiết. 8 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ TRÍ THỨC VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRÍ THỨC 1. Quan niệm chung về trí thức Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh là Intellidentina, dùng để chỉ một bộ phận người trong xã hội có sự thông minh, có trí tuệ, có nhận thức hiểu biết về một số lĩnh vực nào đó.
Thuật ngữ này đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử khi sự phân công lao động xã hội làm nảy sinh một bộ phận người tách khỏi lao động chân tay để lao động bằng trí óc. Tuy vậy, nó chỉ thực sự được sử dụng phổ biến ở khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến nay khi mà vai trò của trí thức được thể hiện rõ nét như là nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Thuật ngữ “tầng lớp trí thức” hay “giới trí thức” (Intelligentsia) xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ XIX, và sau đó là từ “người trí thức” (Intellectuel) xuất hiện ở Pháp sau Công xã Pari năm 1871.[48] Tùy vào đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử và góc độ tiếp cận của mỗi người hay nhóm người mà khái niệm trí thức có nhiều cách hiểu và cách định nghĩa khác nhau. Bản thân lực lượng trí thức cũng luôn có sự thay đổi rất đa dạng về chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò trong cộng đồng xã hội, Vì vậy, khi nói đến trí thức, chúng ta phải khẳng định rằng đây là một phạm trù có tính lịch sử.
Tuy nhiên, về cơ bản, từ trước tới nay khái niệm trí thức vẫn được dùng để chỉ những người lao động trí óc, nhất là những người có học vấn cao. Các nhà sáng lập và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học như C.Lênin là những người đặc biệt quan tâm đến trí thức và vấn đề tri thức, không chỉ vì bản thân các ông là những người trí thức lớn với sự uyên bác về chính trị và thời cuộc mà còn là vì họ nhận thức được một cách sâu sắc vai trò quan trọng của trí thức đối với sự phát triển của xã hội, là lực lượng thúc đẩy sự tiến bộ của lịch sử. 9 Từ những nghiên cứu về con người, C.Ăngghen đã đi sâu nghiên cứu về lực lượng trí thức trong bối cảnh cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ra căng thẳng. Người trí thức cần được giác ngộ lập trường của giai cấp công nhân để thành quả lao động trí óc của họ luôn được coi trọng và tôn vinh đúng mức trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới.
Mặc dù nhận thức được vai trò quan trọng của trí thức, nhưng do những điều kiện nhất định các ông chưa đưa ra định nghĩa về trí thức. Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Ăngghen, trong điều kiện khi toàn thể xã hội đang bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, VI.Lênin - nhà lý luận thiên tài, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng và sử dụng tầng lớp trí thức. Ông đã định nghĩa về trí thức như sau: “Trí thức bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của những người lao động trí óc”[17, tr. Quan niệm của V.Lênin về người trí thức rất rõ ràng rằng: “Người trí thức đấu tranh, tuyệt nhiên không phải là bằng cách dùng thực lực theo lối này hay lối khác, mà là bằng cách dùng những lý lẽ.
Vũ khí của họ chính là sự hiểu biết của cá nhân họ, những năng lực của cá nhân họ, lòng tin của cá nhân họ. Họ chỉ nhờ vào những phẩm chất cá nhân của họ, cho nên mới có thể đóng được một vai trò nào đó. Vì vậy, đối với họ, quyền được hoàn toàn tự do biểu hiện bản chất cá nhân của mình là điều kiện đầu tiên để công tác được kết quả. Với tư cách là một bộ phận trong toàn thể, họ chỉ phục tùng toàn thể đó một cách miễn cưỡng, phục tùng vì bắt buộc, chứ không phải tự nguyện.
Họ chỉ thừa nhận kỷ luật là cần thiết đối với quần chúng, chứ không phải đối với những nhân vật được lựa chọn. Dĩ nhiên là họ xếp mình vào những hàng ngũ những nhân vật được lựa chọn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đội ngũ trí thức nước ta. Dù bằng nhiều cách biểu đạt khác nhau, song Người luôn nhận thức một cách sâu sắc về bản chất, vai trò của trí thức, trân trọng và động viên đội ngũ này đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Trên cơ sở những quan điểm của C.Lênin, tiếp thu tinh hoa văn hoá của dân tộc và trí tuệ thời đại, 10 đồng thời qua thực tiễn xây dựng và sử dụng trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc, cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã định nghĩa về trí thức: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội.
Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác. Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác.
Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải biết đem trí thức đó áp dụng vào thực tế” [12, tr.
Qua nghiên cứu những trước tác của Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số vấn đề trong tư tưởng của Người về trí thức, đó là: Trí thức phải biết lấy việc phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu suốt đời của mình; Trí thức phải đồng hành với dân tộc, cùng dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh; Trí thức phải có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội; Trí thức phải biết đem kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ và sự hiểu biết của mình áp dụng vào thực tế. Xa rời thực tế, trí thức trở thành lý luận suông; Trí thức phải gắn bó mật thiết với công nhân, nông dân và nhân dân lao động và cũng phải học hỏi họ ở tinh thần cần cù lao động; Trí thức phải tiếp tục học hỏi, không ngừng chiếm lấy đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật; Trí thức phải có cuộc sống lành mạnh, có đạo đức và tư cách; Đảng và Chính phủ phải biết tôn vinh trí thức và trí thức phải biết tôn trọng Đảng, Chính phủ, tôn trọng nhân dân lao động; Đảng và Chính phủ phải có chính sách trọng dụng trí thức, trọng dụng nhân tài, hiền tài; Đảng và Chính phủ phải thật sự dân chủ đối với trí thức. Ngày nay, nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp.
Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức. Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư 11 chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở nước Anh. Như vậy, có thể hiểu trí thức không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại, người có bằng cấp cao cũng chưa hẳn đã là trí thức.
Cũng có quan niệm rằng trí thức là những người lao động trí óc. Nhưng cách định nghĩa này chưa làm rõ thế nào là “lao động trí óc”. Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì một nghệ sĩ dương cầm, một nhà điêu khắc hay một bác sĩ phẫu thuật sử dụng cơ bắp không kém gì người lao động chân tay; sáng tạo của một họa sĩ thoạt nhìn cũng không khác hoạt động của người chép tranh hay người vẽ truyền thần; công việc của một nhà giáo ở trung học hay đại học cũng thuộc phạm trù “giáo dục” như công việc của cô bảo mẫu. Điểm phân biệt giữa những người này là ở tầm mức của công việc và trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc ấy.
Ví dụ, khác với y tá hay hộ lý, bác sĩ phẫu thuật thực hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính mạng con người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được đào tạo chu đáo về lý luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, trình độ càng phải cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đã có sẵn, cho ra lò hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau; còn đối với nhà điêu khắc thì mỗi tác phẩm là một sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật nhất định. Tóm lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn. Ngày nay, tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi người và trước thực trạng lực lượng trí thức đang tăng nhanh và chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu dân cư, đã xuất hiện những xu hướng khác nhau khi nghiên cứu về trí thức.
Thứ nhất là xu hướng mở rộng khái niệm trí thức, cho rằng trí thức là những người lao động trí óc nói chung. Ở xu hướng này chúng ta thấy rõ ràng 12 không thể đơn giản cho rằng cứ làm nghề lao động trí óc thì sẽ được coi là trí thức. Bởi lẽ, như quan niệm của VI.