Mở đầu bằng nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh và Lê Thị Hải (1999) về giá trị du lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương thông qua việc sử dụng phương pháp TCM. Tiếp sau là nghiên cứu của hai tác giả Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2000) về đánh giá giá trị kinh tế môi trường Hòn Mun, Nha Trang Khánh Hòa áp dụng phương pháp du hành theo vùng (ZTCM) để xây dựng đường cầu giải trí của du khách nội địa khi đến thăm đảo Hòn Mun. Giá trị giải trí của Hòn Mun được ước tính khoảng 45,4 tỷ đồng vào năm 2000. Giá trị này thể hiện tiềm năng du lịch to lớn của đảo Hòn Mun, mặc dù giá trị giải trí chỉ phản ánh một phần trong tổng giá trị kinh tế đảo Hòn Mun nhưng nó cũng đã cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường tại khu vực này giai đoạn 2000-2007.
Năm 2008, nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh và Trương Ngọc Phong cho ra kết quả giá trị cải thiện chất lượng môi trường đảo Hòn Mun được ước tính đạt 28. Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng được áp dụng phổ biến để xác định giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường. Phương pháp này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của tác giả Bùi Dũng Thể (2005) để xác định mức chi trả của người dân để bảo tồn rừng đầu nguồn tại Huế và tác giả Đinh Đức Trường (2008) để xác định sự suy giảm giá trị của hệ sinh thái san hô do sự cố dầu tràn tại Quảng Nam. Gần đây, một phương pháp đánh giá mới dựa trên thị trường giả định và lựa chọn hành vi (Choice modelling) cũng đã được thực hiện trong nghiên cứu của Đỗ Nam Thắng (2008) để xác định giá trị của bảo tồn đất ngập nước ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.
Phương pháp này đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà sinh thái học để xây dựng các kịch bản bảo tồn phù hợp, từ đó tính ra lợi ích của từng kịch bản. 11 CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC 2. ĐIỀU KIỆN VỀ ĐỊA LÝ VÀ HÍ TƯỢNG THỦY VĂN 2. Điều kiện về địa lý Nằm ở cực tây nam vùng biển Việt Nam, thuộc vùng vịnh Thái Lan, Phú Quốc có tổng diện tích tự nhiên là 589,23km2.
Mũi Đông Bắc của đảo cách quốc gia láng giềng Cam-Pu-Chia 4 hải lý, cách thành phố Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang 62 hải lý về phía Đông và thị xã Hà Tiên là 25 hải lý. Đảo Phú Quốc có hình tam giác, cạnh đáy nằm ở hướng Bắc, nhỏ dần lại về phía Nam. Chiều dài lớn nhất của đảo là 49 km tính đường chim bay theo hướng Bắc-Nam. Nơi rộng nhất trên đảo theo hướng Đông-Tây nằm ở khu vực Bắc đảo với chiều dài là 27 km.
Chu vi của đảo Phú Quốc tổng cộng khoảng 130 km. Quần đảo Phú Quốc bao gồm 1 đảo chính và khoảng trên 20 đảo nhỏ. Trên đảo chính có hai thị trấn : Dương Đông, An Thới và 8 xã: Bãi Thơm, Gành Dầu, Cửa Cạn, Cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ, Hòn Thơm, Thổ Chu. Hình 3: Bảng đồ hành chánh huyện đảo Phú Quốc (Nguồn: Website tỉnh Kiên Giang, 2011) 12 2.
Điều kiện khí hậu thủy văn: Do vị trí đặc điểm của Đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt: - Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm sau + Nhiệt độ: cao nhất 35 độ C vào tháng 4 và tháng 5 + Độ ẩm: có độ ẩm trung bình 78%. + Hướng gió: tốc độ gió trung bình 4,5 m/s, chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4 m/s. Khi gió Đông Bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24 m/s.
- Mùa mưa: Mùa mưa mây nhiều, Trong khu vực Bắc đảo có thể đạt 4000 mm/năm; có tháng mưa kéo dài 20 ngày liên tục. + Độ ẩm cao, từ 85 đến 90% + Lượng mưa trung bình là 414 mm/tháng. Phú Quốc có 130 km bờ biển, 4 hướng là biển của vịnh Thái Lan, do địa hình phức tạp, núi bị chia cắt liên tục nên có nhiều suối rạch, lượng mưa tập trung trong mùa mưa nên lượng nước mặt thường chảy nhanh, tạo ra sự bào mòn và rửa trôi đất mặt, mùa khô thường bị nhiễm mặn và khô cạn. Các rạch lớn như rạch Cửa Cạn, rạch Đầm, rạch Dương Đông, rạch Tràm … là nơi thoát nước ngọt ra biển và thường để nước mặn xâm nhập vào đảo trong mùa khô.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI 2.1 Tình hình kinh tế Trong những năm gần đây, nền kinh tế Phú Quốc đã có những bước chuyển biến khá ổn định với tốc độ cao.
Cơ cấu nền kinh tế đã dần chuyển theo hướng tích cực, phù hợp với thị trường, đó là tăng dần tỷ lệ các ngành mũi nhọn dịch vụ, du lịch, đánh bắt và chế biến hải sản (Trần Hồng Hà, 2008). Đáng kể nhất là Phú Quốc luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân 22%/năm, GDP năm 2012 ước đạt 2.145 tỉ đồng, gấp gần năm lần năm 2004. Hiện thu nhập bình quân đầu người của Phú Quốc đạt 50 triệu đồng/người/năm, bằng 5,78 lần so với tám năm trước.2 Tình hình xã hội Dân số Phú Quốc năm 2006 là 86.900 người tăng lên 110.000 năm 2010 với mật độ khoảng 186ngừơi/km2 và dự báo đến năm 2020 có quy mô khoảng 340.000 người, trong đó dân số đô thị từ 160. Cơ cấu lao động có xu hướng giảm trong các ngành sản xuất nông-lâm-thủy sản.
và tăng nhanh các ngành dịch vụ,du lịch. Tuy nhiên Phú Quốc đang gặp trở ngại lớn là nguồn nhân lực thiếu hụt nghiêm trọng, nhất là nhân lực chất lượng cao. Theo thống kê, huyện Phú Quốc có khoảng 1.500 người phục vụ trong hơn 150 cơ sở du lịch nhưng có tới 80% chưa qua đào tạo chuyên môn, 20% nhân viên còn lại cũng chỉ được đào tạo ngắn hạn, trình độ nghiệp vụ còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn này. Trên địa bàn huyện hiện chỉ có một trường dạy nghề tư thục; một số lớp trung cấp du lịch, quản lý nhà hàng, khách sạn (Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang, 2011).3 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC Huyện đảo Phú Quốc đã xây dựng các quy hoạch phát triển tổng thể và các quy hoạch chuyên ngành ở đảo Phú Quốc, được Nhà nước và tỉnh phê duyệt.
Các quy hoạch đó theo hệ thống từ tổng thể đến đơn tính, theo thứ tự thời gian, chủ yếu bao gồm: Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 178/2004/QĐ - TTg ngày 05 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nhấn mạnh định hướng phát triển Phú Quốc theo hướng đa ngành mà trọng tâm là du lịch cao cấp. Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 1197/QĐ - TTg ngày 09 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ. Quy hoạch là bước đi tiếp theo để thực hiện những định hướng cơ bản của Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, trong đó xác định rõ hơn quy mô đất đai cho xây dựng; định hướng phát triển không gian và kiến trúc cảnh quan; định hướng phát triển kết cấu hạ tầng với những chương trình, dự án ưu tiên trong 5-10 năm tới. Một yêu cầu rất lớn đặt ra trong quy hoạch này là quản lý chặt chẽ quỹ đất xây dựng, có kế hoạch sử dụng quỹ đất phù hợp với nguồn vốn và năng lực của các 14 chủ đầu tư, tránh tình trạng giữ đất và sử dụng đất sai mục đích đảm bảo khai thác quỹ đất trên đảo hiệu quả.
Quy hoạch phát triển giao thông đảo Phú Quốc giai đoạn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 14/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính. Đây là quy hoạch thuộc loại xây dựng cơ sở hạ tầng, chiếm dụng khá nhiều diện tích đất của đảo. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đảo Phú Quốc thời kỳ 2006 – 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 01/2007/QĐ-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó mục tiêu chung của quy hoạch là: phấn đấu đến năm 2020 phát triển đảo Phú Quốc thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, giao thương quốc tế lớn, hiện đại, chất lượng cao, tầm cỡ các quốc gia trong khu vực và thế giới, làm động lực thúc đẩy phát triển du lịch cả nước, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế chủ đạo của đảo Phú Quốc, gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh, quốc phòng.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG 2.
Hiện trạng môi trường nước huyện đảo Phú Quốc a/ Chất lượng nước mặt khu vực Phú Quốc Phú Quốc đang bị tác động xấu bởi ô nhiễm dầu từ hoạt động của các phương tiện thủy, chất thải từ các khu vực môi trồng thủy sản, từ các hệ thống cảng cá và các cảng giao thông, từ các khu đô thị, KCN ven biển, đảo, từ hoạt động du lịch… nếu không có các giải pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu thì sự phát triển của các lĩnh vực này kéo theo ô nhiễm môi trường ngày càng lớn hơn, hậu quả nghiêm trọng hơn. Biển ở Kiên Giang trở thành một “túi” chứa chất thải khổng lồ, chứa tất cả những loại chất thải chưa được xử lý từ bản thân hoạt phát triển kinh tế xã tại tỉnh Kiên Giang và từ thượng nguồn theo lưu vực sông Hậu và sông Giang Thành đổ về. 15 Bảng 1: Chất lượng nước mặt khu vực Phú Quốc (Nguồn: Trần Hồng Hà, 2008) Ký hiệu mẫu QCVN Stt Chỉ tiêu Đơn vị 08:2008 MS1 MS2 (A2) 1 pH - 7,93 6,53 6 – 8,5 2 BOD5 mgO2/l 16 27 6 3 COD mgO2/l 53 69 15 4 DO mgO2/l 7,14 5,06 ≥5 5 SS mg/l 65 40 30 6 Amoni mg/l 0,66 1,42 0,2 7 Nitrat mg/l 1,29 3,16 5 8 Nitrit mg/l 0,01 0 0,02 9 Cl- mg/l 14.309 400 10 Tổng Sắt mg/l 0,96 2,26 1 11 Chì mg/l 0,014 0,030 0,02 12 Dầu mỡ mg/l 0,42 0,31 0,02 13 TổngColiform MPN/100ml 5.000 Ghi chú: MS1: Tại cảng An Thới – thị trấn An Thới MS2: Cầu Nguyễn Trung Trực thị trấn Dương Đông.