CHƯƠNG I TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan Ung thư phổi ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Hơn một phần tư trong số tất cả các bệnh ung thư được chẩn đoán có liên quan đến phổi. Ung thư phổi nguyên phát vẫn là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở nam giới và phụ nữ trên toàn thế giới.
Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2018 ước tính ung thư phổi gây ra khoảng 1.76 triệu trường hợp tử vong chiếm hơn 84% tổng số ca nhiễm trên thế giới. Theo định nghĩa, ung thư phổi là một khối u phổi ác tính được đặc trưng bởi sự tăng trưởng không kiểm soát được trong mô phổi. Phát hiện sớm ung thư phổi có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và tăng khả năng chữa khỏi cho người bệnh. Ngày nay, việc chẩn đoán và xác định giai đoạn của ung thư phổi có thể dựa trên thăm khám lâm sàng, chụp X-quang tim phổi, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI), xạ hình xương, nội soi phế quản, nội soi trung thất, sinh thiết hạch, u phổi chẩn đoán mô bệnh học.
Chụp CT mô phỏng hiện nay đang trở nên phổ biến như một phương pháp đánh giá tổng thể giai đoạn ung thư. Máy chụp cắt lớp vi tính (CT- Scanncer: Computed Tomography).Máy thực hiện phương thức này có nhiều loại khác nhau, hiện nay phổ biến nhất là loại máy chụp cắt lớp nhiều đầu thu (multidetector computed tomography, viết tắt là MDCT); người tiến hành tiến trình chụp cắt lớp bằng máy này gọi là kỹ thuật viên X quang (radiographers).1 Hình ảnh máy chụp CT Ảnh y tế thu nhận được từ máy chụp cắt lớp vi tính (CLVT) được phân tích bằng các thuật toán và lưu lại trên máy tính. Tuy nhiên, giống như các kiện hàng trong các thùng container, chỉ có những chủ kiện hàng mới biết được bên trong đó là gì nếu các thông tin không được dán mác ở bên ngoài. Không chỉ phục vụ mục đích lưu trữ và chẩn đoán bệnh, chuẩn DICOM ra đời còn là cuộc cách mạng trong lĩnh vực nghiên cứu y khoa.
Khi các bác sỹ muốn tìm kiếm các trường hợp tương tự để giúp họ chẩn đoán và có kế hoạch điều trị thành công cho nhiều bệnh nhân khác. Hơn nữa, ứng dụng của y học từ xa (telemedicine) không thể thành công nếu thiếu chuẩn DICOM, Khi các bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa không được tiếp cận với các bệnh viện tuyến trên một cách nhanh nhất, đối với các trường hợp khẩn cấp, thì việc truyền ảnh chụp được từ các Bệnh viện tuyến dưới lên tuyến trên để được sự tư vấn của các chuyên gia đầu ngành là hết sức quan trọng Năm 1980, Chuẩn DICOM đã được phát triển để giải quyết vấn đề lưu trữ và truyền các thông tin chẩn đoán hình ảnh. Trong đó có các thông tin của người bệnh như tên tuổi, số thẻ bảo hiểm, nhóm máu … DICOM được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1983 và được công bố lần đầu tiên năm 1985 bởi tổ chức American College of Radiology (ACR) và National Electrical Manufacture Association (NEMA). Đầu những năm 1980, rất khó khăn để các nhà sản xuất máy chụp CLVT (CT scanner) và máy chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể mã hóa được hình ảnh 31 cho những thiết bị chung.
ACR và NEMA đã cùng đưa ra một tiêu chuẩn chung năm 1983. Tiêu chuẩn đầu tiên của họ, 3 ACR/NEMA 300, đã được công bố năm 1985. Năm 1988, phiên bản thứ 2 ra đời. Phiên bản này được sự ủng hộ nhiều hơn của các công ty.
Sự công bố của kỹ thuật đa kết nối ACR/NEMA V2.0 lần đầu tiên được tổ chức ở Georgetown University, 21-23 tháng 5, 1990.0 được công bố và từ đó tiếp tục được sửa đổi và bổ sung Hình 1.2 Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của bệnh nhân ung thư phổi Sau khi thu được ảnh, bác sĩ sẽ sử dụng hình ảnh CT thu được để phân tích và chẩn đoán các mô phổi. Việc chẩn đoán các bất thường của phổi bằng phương pháp thủ công là một quá trình tốn thời gian, mang tính chủ quan và đòi hỏi các bác sĩ cần có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, rất khó để bác sĩ có được chẩn đoán chính xác nếu không có sự trợ giúp của công cụ bổ sung được gọi là Hệ thống chẩn đoán có sự hỗ trợ của máy tính (Computed Aided Diagnosis - CAD). Hệ thống chẩn đoán có sự hỗ trợ của máy tính (CAD) là một công cụ chẩn đoán y tế hiệu quả và là điều kiện tiên quyết cho việc phân tích hình ảnh y tế thực tiễn.
Bác sĩ sử dụng hệ thống CAD để cung cấp thêm ý kiến thứ hai để có được các chẩn đoán chính xác hơn. Đây là công cụ rất hữu ích, được sử dụng rộng rãi để cải thiện hiệu quả của việc điều trị 4 Đối với nhiều hệ thống CAD, luôn cần một quy trình phân đoạn ảnh chính xác của các cơ quan cần quan tâm để xác định vị trí cũng như kích thước của chúng. Đây là bước khởi đầu tiên quyết để phân tích hình ảnh CT phổi định lượng một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thiết kế một phương pháp phân đoạn phổi hiệu quả là một vấn đề đầy thách thức, đặc biệt đối với nhu mô phổi bất thường, nơi các nốt và mạch máu cần được phân tách với nhu mô phổi.
Hơn nữa, phổi cần được phân tách ra khỏi các khu vực phế quản thường bị nhầm lẫn với các mô phổi. Ngày nay, trí tuệ nhân tạo và học máy trong đó cụ thể hơn là Deep learning - Học sâu đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, giúp các hệ thống hoạt động thông minh và hiệu quả hơn. Khả năng nhận dạng hình ảnh của máy móc được huấn luyện thông qua Deep learning trong một số tình huống tốt hơn so với con người đặc biệt trong điều kiện yêu cầu đưa ra kết luận nhanh, chính xác. Điều này đã được chứng minh trong các ứng dụng liên quan đến tính năng khai thác tự động, phân loại hình ảnh và phát hiện đối tượng như các hệ thống nhận diện khuôn mặt người dùng, xe hơi tự lái hay drone giao hàng tự động.
Ngoài ra trí tuệ nhân tạo còn có ưu điểm khi không bị ảnh hưởng do quá trình làm việc trong thời gian dài, liên tục dẫn đến có thể đưa ra những phán đoán sai lầm, cảm tính. Gần đây, việc áp dụng các kỹ thuật học sâu cho phân đoạn hình ảnh y tế đã nhận được sự quan tâm lớn bởi các nhà khoa học trên thế giới do chúng có khả năng học hỏi và xử lý lượng lớn dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác. Một số nhà nghiên cứu đã đề xuất và triển khai phát hiện ung thư phổi bằng các cách tiếp cận hình ảnh khác nhau xử lý và học máy. Aggarwal, Furquan và Kalra[1] đã đề xuất một mô hình cung cấp phân loại giữa các nốt và cấu trúc giải phẫu phổi bình thường.
Phương pháp trích xuất hình học, thống kê và mức độ sáng tối của ảnh. LDA được sử dụng như bộ phân loại và tạo ngưỡng tối ưu để phân đoạn. Hệ thống có độ chính xác 84%, độ nhạy 97,14% và độ đặc hiệu 53,33%. Mặc dù hệ thống phát hiện được nốt ung thư, nhưng độ chính xác của nó vẫn là khiêm tốn.
Jin, Zhang và Jin[2] đã sử dụng mạng nơ-ron tích chập làm bộ phân loại trong hệ thống CAD của mình để phát hiện ung thư phổi. Hệ thống có độ chính xác 84,6%, độ nhạy 82,5% và độ đặc hiệu 86,7%. Ưu điểm của mô 5 hình này là nó sử dụng bộ lọc tròn trong giai đoạn trích xuất khu vực quan tâm (ROI), giúp giảm thời gian huấn luyện và các bước nhận dạng. Mặc dù giảm thời gian thực hiện nhưng độ chính xác vẫn chưa được cải thiện.
Sangamithraa và Govindaraju [3]sử dụng thuật toán học không giám sát để phân loại hoặc phân đoạn. Nó nhóm tập dữ liệu pixel theo các đặc điểm nhất định. Để phân loại, mô hình này thực hiện bằng mạng lưới lan truyền ngược. Các hàm như entropy, tương quan, đồng nhất, PSNR, SSIM được trích xuất bằng cách sử dụng mức độ sáng tối của anh phương pháp ma trận đồng xuất hiện (GLCM).
Hệ thống có độ chính xác khoảng 86,7%. Roy, Sirohi và Patle [4,5] đã phát triển một hệ thống phát hiện nốt ung thư phổi bằng cách sử dụng hệ thống giao thoa mờ và mô hình đường viền hoạt động. Hệ thống này sử dụng chuyển đổi mức độ sáng tối của ảnh để nâng cao độ tương phản của hình ảnh. Mã hóa hình ảnh mới được thực hiện trước khi phân loại và hình ảnh kết quả được phân loại bằng cách sử dụng mô hình đường bao hoạt động.
Phân loại ung thư thực hiện bằng phương pháp suy luận mờ. Các hàm như diện tích, trung bình, entropy, tương quan, độ dài trục chính, phụ độ dài trục được trích xuất để đào tạo bộ phân loại. Nhìn chung, độ chính xác của hệ thống là 85%. Tính hạn chế của nó không phân loại ung thư là lành tính hay ác tính là hạn chế trong của mô hình đề xuất này.
Ở Việt Nam, việc chẩn đoán thủ công hoặc bán thủ công thông qua ảnh CT gây tốn nhiều thời gian và công sức của bác sỹ. Với áp lực từ số lượng bệnh nhân lớn, khối lượng công việc cần thực hiện nhiều, có thể dẫn đến sự mệt mỏi của các bác sỹ, việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị đôi lúc chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc điều trị. Do đó, thiết lập một phần mềm hỗ trợ bác sỹ trong việc phát hiện, xác định vị trí và kích thước khối u của phổi thông qua kỹ thuật phân đoạn ảnh thông minh dựa trên việc ứng dụng học máy và học sâu là việc làm cần thiết. Điều này đồng thời cũng sẽ giúp giảm thiểu hơn nữa các tác hại không mong muốn tới cơ thể bệnh nhân.
Trong những năm gần đây, các nhóm nghiên cứu của Việt Nam đã rất nhanh chóng bắt kịp xu hướng chung của thế giới là nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ bác sỹ chẩn đoán một số bệnh ung thư, trong đó có ung thư phổi. Nhóm nghiên cứu của tác giả Trần Giang Sơn [6] và cộng sự đã xây dựng thành công mô hình phát hiện và nhận dạng vị trí, kích thước các nốt, khối 6 u phổi trên ảnh CT, đồng thời xây dựng thành công mô hình phân loại các nốt, khối u phổi trên ảnh chụp CT là lành tính hay ác tính.