chương 1: Tài chính vi mô đã xuất hiện từ cách đây khoảng 200 năm với mục đích hỗ trợ người nghèo trong việc tạo công ăn việc làm và nguồn vốn để khởi nghiệp. Tài chính vi mô là lĩnh vực tài chính chuyên cung ứng các dịch vụ tài chính được thiết kế đặc biệt để phục vụ cho tầng lớp người nghèo trong xã hội, những người không đủ điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống. Các TCTCVM là các tổ chức tài chính chuyên phục vụ người nghèo, với các dịch vụ tài chính có quy mô nhỏ đến rất nhỏ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 22 CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VI MÔ Như phần trên đã đề cập, TCVM được định nghĩa là việc cung cấp các loại hình dịch vụ tài chính như: tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp cũng như các doanh nghiệp nhỏ.
Với cách hiểu như vậy thì TCVM đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Tuy nhiên, ban đầu, TCVM chỉ được cung cấp bởi những nhà cung cấp không chính thức như Hụi, Họ, nhóm tiết kiệm và vay vốn, chủ cửa hàng,người cho vay lãi v. Hình thức cung cấp dịch vụ TCVM bán chính thức và có sự tham gia của các tổ chức tài chính chính thức bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 19 tại châu Âu tại các nước Anh, Đức, Ai len và Ý. Sang cuối thế kỷ 20, từ khi Ngân hàng Grameen ở Bangladesh là người đi tiên phong trong phong trào tín dụng vi mô và cho thấy rõ tiềm năng trong việc xoá đói giảm nghèo bằng phương thức cung cấp tín dụng cho các hộ gia đình nghèo, TCVM bắt đầu được thịnh hành trên toàn thế giới.
Trước đây, TCVM luôn gắn liền với các chương trình xóa đói giảm nghèo mang tính hỗ trợ nhân đạo của chính phủ hay các tổ chức nhân đạo. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay trên thế giới đã xuất hiện cách tiếp cận thương mại vào lĩnh vực TCVM. Đã xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy ngành TCVM có thể phát triển tự vững, và có thể sinh lời chứ không chỉ là các hoạt động viện trợ, nhân đạo.1Các mô hình TCVM tiêu biểu 2.1 Mô hình ngân hàng Grameen Mô hình này do ngân hàng Grameen tại Banglades phát triển, được thành lập chính thức năm 1976, và đến năm 1983 thì chuyển đổi thành một ngân hàng chính thống theo một đạo luật đặc biệt của Chính phủ dành cho ngân hàng này. Đây là một mô hình đặc biệt bởi 94% vốn của nó là của chính những khách hàng.
Họ chủ yếu là phụ nữ. Phần còn lại, 6% cổ phần, thuộc sở hữu của nhà nước. Với mục đích chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 23 là nhằm phục vụ những người phụ nữ nông thôn, không có ruộng đất, mong muốn tài trợ cho các hoạt động thu nhập. (Mark Schreiner, 2003) Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 dollar tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèo vay) thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen.
Hiện nay ngân hàng này có tới 2100 chi nhánh. Phương pháp thực hiện: - Phân người vay thành hai nhóm rõ ràng: nhóm đầu tư rủi ro cao và nhóm đầu tư an toàn. - Sẽ không cho vay theo cá nhân mà vay theo nhóm (cluster): Các nhóm thành viên không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân được tự thành lập và tập trung thành các “trung tâm” gồm khoảng 8 nhóm. Các thành viên bắt buộc phải tham dự các buổi sinh hoạt hàng tuần và đóng góp tiền tiết kiệm, đóng góp vào quỹ nhóm và đóng tiền bảo hiểm.
Đóng góp tiền tiết kiềm được thực hiện từ bốn đến năm tuần trước khi nhận được món vay và phải tiếp tục trong thời gian vay vốn. Quỹ nhóm được nhóm tự quản lý và có thể được sử dụng để cho vay đến các thành viên trong nhóm. Các thành viên trong nhóm cùng bảo lãnh những món vay của nhau và chịu trách nhiệm liên đới về pháp luật về việc hoàn trả nợ của các thành viên khác trong cùng nhóm. Bất kỳ thành viên nào cũng không được vay thêm nếu các thành viên khác trong nhóm không trả hết nợ.
Các khoản vay đều được cho vay mà không đòi hỏi tài sản thế chấp Sản phẩm : Các món vay thường có kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm và việc hoàn trả được thực hiện hàng tuần. Số tiền vay thường dao động từ $100 đến $300 với lãi suất khoảng 20% năm. Đi kèm với mỗi khoản vay là các khoản tiền gửi tiết kiệm bắt buộc Tác động và hiệu quả: Người vay của Grameen hiện phục vụ hơn 58 triệu khách hàng với số lượng 5,4 tỷ USD có tới 97% là phụ nữ, tỷ lệ trả nợ rất cao (98%). Lý do cũng không phải đơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 24 giản là phụ nữ ít trốn nợ hơn mà là do họ được gia đình cử đi vay và đứng sau họ (lao động để trả nợ) chính là chồng và con họ.
Tác động xấu của việc này là nhiều trường hợp hộ sản xuất nhỏ đã phải cho con nghỉ học để ở nhà làm thêm. Tín dụng vi mô còn có tác động tích cực đến việc kích thích năng khiếu kinh doanh nhỏ của người vay, đặc biệt là phụ nữ. Để sử dụng vốn vay thành công, tự thân người vay phải tìm tòi cách tính toán đồng tiền cho hiệu quả, nâng cao các kỹ năng sản xuất hộ gia đình (chăn nuôi, làm hàng thủ công, gia công), các kỹ năng bán hàng (tiếp thị, mở rộng quan hệ ra vùng xung quanh hoặc vùng xa) Mô hình này được áp dụng: Grameen Bank và ủy ban vì sự tiến bộ ở nông thôn Bangladesh, Tulay sa Pag – Unlad, Inc; Dự án Dungganon ở Philippines; ở Việt Nam có các tổ chức áp dụng mô hình này là TYM, dự án Việt-Bỉ, CIDSE (cơ quan hợp tác quốc tế vì sự phát triển và đoàn kết) 2.2 Mô hình ngân hàng làng Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triển vào giữa thập kỷ 80. Phương pháp: khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20 thành viên, đa số là phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗi thành viên đều sở hữu một “cổ phần” của ngân hàng.
Tất cả các thành viên đều phải ký một thỏa ước vay vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung. Số tiền cho ngân hàng làng xã vay thường dựa trên tổng tất cả các yêu cầu vay của các thành viên. Các món vay với ngân hàng làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến 12 tháng, với việc thanh toán toàn bộ số tiền vào cuối kỳ. Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với số tiền tổng cộng được tiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng.
Các ngân hàng làng có mức độ kiểm soát dân chủ cao và độc lập. Các cuộc họp hàng tháng nhằm thu các khoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về quản lý vầ nếu có thể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ TCTCVM. Sản phẩm: Các món vay có lãi suất thương mại (1 – 3%/tháng) và lãi suất sẽ cao hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ. Một vài ngân hàng đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 25 mở rộng cung cấp dịch vụ bao gồm cả giáo dục về đổi mới nông nghiệp, dinh dưỡng và y tế.
Tiết kiệm của các thành viên gắn liền với số tiền vay và được sử dụng để tài trợ cho những món vay mới hoặc cho những hoạt động tạo thu nhập. Mô hình tài chính vi mô đã được áp dụng: Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Tầm nhìn thế giới (WVI), CARE ở Guatermala.3 Nhóm đoàn kết Mô hình này được ACCION International phát triển tại Châu Mỹ Latinh Phương pháp thực hiện: Vốn vay được cung cấp cho các nhóm từ 4-7 thành viên hơn là cho cá nhân, tự các thành viên sẽ chia đều vốn cho nhau. Khách hàng thường là những doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính thức, chẳng hạn những nhà buôn hoặc người kinh doanh cần một lượng vốn hoạt động nhỏ. Các thành viên trong nhóm cùng bảo đảm việc hoàn trả món vay, và việc tiếp cận các món vay tiếp theo phụ thuộc vào sự hoàn trả thành công của tất cả các thành viên trong nhóm.
Các khoản thanh toán được thực hiện hoàn toàn tại trụ sở của chương trình. Mô hình cũng kết hợp sự hỗ trợ kỹ thuật tối thiểu tới người vay, chẳng hạn huấn luyện và xây dựng tổ chức. Các khoản tiết kiệm thường được đòi hỏi nhưng nhiều khi được khấu trừ số tiền vay vào thời điểm giải ngân món vay chứ không nhất thiết đòi hỏi khách hàng phải tiết kiệm trước khi nhận được món vay. Số tiền tiết kiệm về cơ bản phục vụ nhu một số dư bù đắp, bảo đảm cho một phần của số tiền vay.
Sản phẩm: Số tiền vay ban đầu thường nằm trong khoản $100 đến $200. Những món vay sau đó không có giới hạn trên. Lãi suất thường khá cao và dịch vụ cũng được tính gộp. Các khoản tiết kiệm thường được yêu cầu như một phần của món vay.
Một vài tổ chức khuyến khích việc thiết lập các quỹ cứu trợ khẩn cấp trong nội bộ nhóm để hoạt động như một phương tiện bảo đảm an toàn. Có rất ít sản phẩm tiết kiệm tự nguyện được cung cấp. Mô hình này được áp dụng: BancoSol ở Bolivia; các chi nhánh của ACCION; Asociacion Grupos Solidarios de Colombia …Ở Việt Nam các tổ chức áp dụng mô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 26 hình này có Tổ chức cứu trợ trẻ em Mỹ và Cơ quan cứu tế và phát triển dòng Adventis (ADRA).4 Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) là một Ngân hàng Nhân dân Indonesia, một ngân hàng nông thôn thuộc sở hữu nhà nước đã ngừng hẳn việc cung cấp tín dụng bao cấp và tiến hành một phương pháp vận hành theo các nguyên tắc thị trường. Đặc biệt, ngân hàng Nhân dân Rakyat Indonesia (BRI) đã phát triển một hệ thống khuyến khích người vay (những nông dân nghèo) và nhân viên của mình một cách rất rõ ràng, khen thưởng với những người trả nợ đúng hạn, và hoạt động dưạ trên huy động tiết kiệm cũng như nguồn vốn của ngân hàng.500 văn phòng tại Indonesian Archipelago và 30.000 nhân viên, ngân hàng này phục vụ một số tài khoản đáng kinh ngạc: 35 triệu tài khoản.
Thông qua mạng cục bộ tại nhiều tỉnh thành ở Indonesia, cho vay những nguồn vốn nhỏ, thường là vài trăm USD cho những nông dân nghèo và những nhà buôn nhỏ.