đặt vấn đề khi tạo lập kịch bản: cách tiếp cận dựa trên danh mục, xác định trƣớc mức tổn thất rồi tìm kịch bản và cách tiếp cận dựa trên kịch bản, xác định kịch bản trƣớc rồi tính toán tổn thất. Đối với cách làm thứ nhất, để lƣợng hóa một sự kiện “cực độ và có khả năng xảy ra”, từ dữ liệu lịch sử, xây dựng đƣờng phân bố xác suất, phân bố tổn thất rồi từ đó tập trung vào các sự kiện “đuôi” (đáp ứng yêu cầu cực độ), tìm ra những mức giá trị thay đổi cực độ tại mức xảy ra xác suất rất thấp, ví dụ khả năng xảy là 1% (đáp ứng yêu cầu có khả năng xảy ra). Đối với cách làm thứ hai – xác định ngƣỡng, ngƣời thực hiện sẽ đặt câu hỏi nhƣ “nếu tỷ lệ rút tiền gửi là 20% thì các ngân hàng có đảm bảo đƣợc khả năng thanh khoản hay không? Hay nếu các NHTMCP tôn trọng các cam kết (hạn mức tín dụng ngoại bảng), việc các chủ thể rút tiền với tỷ lệ cao bất thƣờng thì NHTMCP có đảm bảo đƣợc khả năng thanh khoản? Cách làm này gọi là Stress Test ngƣợc. Trong luận văn, cách làm thứ hai đƣợc áp dụng.2 Nguyên tắc xây dựng kịch bản thanh khoản Kịch bản thanh khoản phải là những kịch bản có khả năng xảy ra và tại kịch bản này trạng thái thanh khoản của các ngân hàng bị tổn thƣơng nghiêm trọng.
Mỗi kịch bản khi xây dựng sẽ bao gồm các giả định về hành vi của khách hàng trong điều kiện khủng hoảng và cần phải cân nhắc đến lịch sử tỷ lệ thực hiện trên thực tế đối với từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán. 14 Các kịch bản đƣợc chọn sẽ phải dựa trên sự xem xét những thay đổi bất thƣờng của các nhân tố rủi ro thị trƣờng và phi thị trƣờng. Các tình huống cụ thể và những nguyên tắc xây dựng cũng nhƣ các giả định và căn cứ đặt ra phải đƣợc cân nhắc lƣu trữ làm cơ sở để đánh giá và xây dựng cho các kịch bản sau đó (tính liên tục và kế thừa).3 Các dạng kịch bản thanh khoản + Kịch bản đặc thù: kịch bản phản ánh các khủng hoảng đặc thù riêng của từng ngân hàng riêng lẻ. Theo đó, các ngân hàng sẽ xác định vấn đề đặc thù riêng của ngân hàng mình để xác định các nhân tố cho phù hợp; + Kịch bản thị trƣờng: phản ánh các khủng hoảng chung của thị trƣờng.
Đây là loại kịch bản sẽ đƣợc xem xét xây dựng khi tiến hành kiểm tra sức chịu đựng của các NHTMCP Việt Nam. Là kịch bản mà một số lƣợng lớn các ngân hàng đang gặp khó khăn về mặt thanh khoản. Bao gồm các đặc điểm sau: - Thanh khoản toàn hệ thống sụt giảm, tính thanh khoản của các tài sản đƣợc coi là thanh khoản cao sụt giảm; - Các đối tác của ngân hàng vỡ nợ; - Việc bán các tài sản phải chấp nhận ở mức tỉ lệ chiết khấu cao do có sự đánh giá tiêu cực về chất lƣợng tài sản nói chung; - Có gián đoạn nghiệm trọng của hệ thống thanh toán trên thị trƣờng; - Các đặc điểm khác có liên quan,… + Kịch bản kết hợp: kết hợp cả hai loại kịch bản trên. Mỗi loại hình kịch bản điều có những ƣu và nhƣợc điểm riêng.
Đối với kịch bản đặc thù, ƣu điểm là các ngân hàng có thể tự xây dựng cho mình mức độ tác động của một hoặc một vài vấn đề nào đó sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến niềm tin thị trƣờng, của ngƣời gửi tiền đối với ngân hàng hoặc hình ảnh của ngân hàng; Tuy nhiên nhƣợc điểm là bỏ qua những biến động chung của toàn bộ hệ thống, điều này là thiếu xót lớn nếu bỏ qua mối liên hệ mật thiết giữa ngân hàng và hệ thống. 15 Đối với kịch bản thị trƣờng, ƣu điểm là phản ánh bức tranh chung những nhân tố sẽ tác động đến toàn bộ thị trƣờng. Trong mỗi giai đoạn, mỗi ngân hàng sẽ đối mặt với một hoặc một vài vấn đề nào đó (nổi bật), việc xem xét chung toàn bộ các ngân hàng với một hoặc một vài vấn đề sẽ không phản ánh chính xác tình trạng thanh khoản của từng ngân hàng riêng lẻ. Một sự kết hợp giữa kịch bản thị trƣờng và kịch bản đặc thù sẽ bổ sung những khuyết điểm còn tồn tại ở mỗi loại kịch bản.4 Các giả định khi thực hiện kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản Thực hiện tiếp cận thận trọng khi đƣa ra các giả định trong các kịch bản thanh khoản.
Các giả định dựa trên những phân tích về hành vi, đặc tính của các khoản mục trong và ngoài bảng cân đối kế toán trong hoàn cảnh căng thẳng: - Các tài sản thanh khoản bị sụt giảm giá trị; - Khả năng thu hồi các dòng tiền vào trong ngắn hạn (01 tháng và 03 tháng) giảm; - Tỷ lệ rút tiền gửi tăng, đặc biệt tỷ lệ rút tiền gửi từ dân cƣ; - Tỷ lệ rút tiền gửi của các khách hàng lớn tăng; - Không huy động đƣợc hoặc phải chịu lãi suất huy động rất lớn; - Việc thực hiện các nghĩa vụ cam kết, bảo lãnh của các ngân hàng tăng; - Và các giả định khác,… 2.5 Quy trình thực hiện kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản Mục đích của phần này nhằm mô tả các bƣớc công việc khi thực hiện kiểm tra sức chịu đựng. Đây là quy trình chung đƣợc áp dụng cho cả NHTW lẫn các NHTM theo cách tiếp cận từ trên xuống (cho NHTW) cũng nhƣ từ dƣới lên (cho các NHTM). Về cơ bản, quy trình gồm 4 giai đoạn: nhận diện tổn thƣơng (các khoản mục có thể gây rủi ro trong BCĐKT, xây dựng kịch bản và áp dụng vào bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, từ đó, đánh giá sức chịu đựng của các ngân hàng để đƣa ra các biện pháp. Quy trình bắt đầu tƣ việc xác định các thành phần quan trọng (để thu 16 thập số liệu) của đối tƣợng cần thực hiện ST.
Giai đoạn thứ hai là xây dựng các kịch bản thông qua việc giả định (các sự kiện bất lợi, có tính chất cực độ, mang tính chất ngoại lệ, bất thƣờng nhƣng có khả năng xảy ra), có thể xây dựng nhiều kịch bản hoặc một kịch bản phù hợp với hệ thống ngân hàng hay từng ngân hàng riêng lẻ. Giai đoạn thứ ba là tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả tác động theo từng kịch bản. Giai đoạn cuối cùng là xác định kế hoạch hành động để kiểm soát rủi ro. Để thực hiện quy trình này, cần có các dữ liệu đầy đủ phục vụ cho việc nhận dạng các tổn thƣơng, cụ thể là các khoản mục trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, các sự kiện lịch sử, kinh nghiệm thực hiện Stress Test của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Đặc biệt là báo cáo ổn định tài chính (quy định các chuẩn mực chung) của NHTW ở mỗi quốc gia. Tóm lại, quy trình thực hiện kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản đƣợc thực hiện nhƣ sau: Thứ nhất, xác định các khoản, mục tiềm ẩn khả năng gây ra trạng thái căng thẳng về thanh khoản của ngân hàng; Thứ hai, xây dựng các kịch bản thanh khoản và giả định cho từng kịch bản Thứ ba, phân tích, đánh giá kết quả tác động theo từng kịch bản Thứ tƣ, xác định kế hoạch hành động để kiểm soát rủi ro thanh khoản cho từng kịch bản.6 Kết quả của kiểm tra sức chịu đựng và công bố thông tin về kết quả kiểm tra sức chịu đựng 2.1 Kết quả của kiểm tra sức chịu đựng Kết quả tác động của Stress Test thƣờng thể hiện ở hai dạng chính: (i) các chỉ số tài chính về vốn, mức độ tổn thất, hoặc (ii) các tỷ lệ an toàn về thanh khoản. Nhìn chung, ST giúp cơ quan quản lý và các tổ chức tài chính chủ động đối phó với những tình huống xấu nhất xảy ra.2 Công bố thông tin về kết quả kiểm tra sức chịu đựng Cho đến nay, vẫn chƣa có một nguyên tắc thống nhất về mức độ minh bạch cần có đối với kết quả Stress Test. Theo xu hƣớng phát triển của ngành ngân hàng trên thế giới, cần thận trọng xem xét lựa chọn áp dụng chuẩn mực công bố thông tin quốc tế.
Ví dụ, ở Mỹ, kết quả kiểm tra sức chịu đựng phải đƣợc công bố rộng rãi, trong khi các nƣớc khối EU chỉ công bố kết quả tổng hợp và không nêu tên cụ thể các ngân hàng. Mặc dù việc triển khai và công bố kết quả Stress Test góp phần cải thiện khả năng ổn định của các ngân hàng, nhƣng cần cẩn thận việc công bố thông tin quá mức có thể gây ra các xáo trộn lớn, đặc biệt những nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào hệ thống ngân hàng (nhƣ Việt Nam). Cuối cùng, do sự phức tạp về kỹ thuật thực hiện, các ngân hàng và cơ quan quản lý cần thận trọng khi công bố thông tin để tránh công chúng và thị trƣờng hiểu sai về kết quả kiểm tra sức chịu đựng, thậm chí vô cùng nguy hiểm và có thể dẫn đến hỗn loạn thị trƣờng. Dƣới đây, là bảng tóm tắt chính sách công bố thông tin của các NHTW khối SEACEN đối với kết quả ST.1: Sự tham gia, mức độ thƣờng xuyên và phổ biến của ST tại một số nền kinh tế SEACEN (Nguồn: NHNN, 2012) 2.7 Hạn chế của kiểm tra sức chịu đựng Mặc dù ST đƣợc nhìn nhận là một công cụ hữu ích trong công tác thanh tra, giám sát quản trị rủi ro nhƣng nếu không hiểu đúng và nhìn nhận những hạn chế của nó thì không thể sử dụng công cụ này hiệu quả.
Trƣớc hết, Stress Test thƣờng nhìn nhận đối tƣợng Stress Test là đối tƣợng tĩnh và thụ động, tức là chúng bỏ qua những phản ứng hay cách ứng phó của đối tƣợng đó trong thực tế. Đồng thời kết quả kiểm tra thƣờng không tính đến chính sách can thiệp của các cơ quan quản lý. Điều này không đúng trong thực tế. vì vậy, 19 chúng ta nên nhìn nhận kết quả Stress Test nhƣ những chỉ số phản ánh mức độ tổn thƣơng hơn là những kết quả mang tính chất dự báo.
Đây là một nhầm lẫn phổ biến khi diễn giải kết quả Stress Test. Stress Test có thể đƣa ra ƣớc tính tổn thất từ một sự kiện cụ thể nhƣng không cho biết xác suất xảy ra tại mức tổn thất đó nhƣ thế nào, đây là một trong những hạn chế lớn nhất. Mặc dù Stress Test là kỹ thuật định lƣợng và có tính logic cao nhƣng trên thực tế vận dụng công cụ này chƣa hẳn đã đem lại sự minh bạch rõ ràng.