CHƯƠNG I: SÓNG XUNG KÍCH VÀ CÁC CÔNG NGHỆ TẠO RA SÓNG XUNG KÍCH 1. Định nghĩa, bản chất của sóng xung kích Sóng xung kích là một mặt gián đoạn lan truyền trong các môi trường vật chất (thường gặp trong môi trường chất lưu như chất khí, chất lỏng, plasma,…) mà khi đi qua mặt truyền sóng, các tham số khí động, nhiệt động như mật độ, áp suất, nhiệt độ, vận tốc, entropy bị gián đoạn với các bước nhảy hữu hạn [1]. Sóng xung kích là sóng cơ học (tương tự như sóng âm thanh) xuất hiện trong môi trường chất lưu (khí, lỏng) khi có sự kiện mang tính bùng nổ diễn ra (ví dụ khi bom nổ, máy bay vượt rào cản âm thanh). Máy bay vượt quá tốc độ 1225km, đẩy các phân tử khí khỏi đường bay của nó, luồng phân tử khí này được nén lại với dạng hình tròn kéo dài từ mũi xuống dọc thân máy bay và tạo thành sóng xung kích.
Sóng xung kích là xung cơ học được đặc trưng bởi: - Áp suất dương rất cao ở bề mặt sóng và khoảng giảm áp nhỏ ở đuôi sóng. Biên độ áp suất tăng lên đỉnh trong vài nano giây. Trong các thiết bị tán sỏi, áp suất đỉnh khoảng 10 – 150 Megapascals (MPs). - Biên độ áp suất tăng rất nhanh và độ rộng xung rất hẹp (vài micro giây).
HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS. TRẦN HY BÌNH 4 - Có thể truyền năng lượng đi một khoảng cách khá xa (bom nổ có thể làm cửa kính ở cách hàng km bị vỡ). - Sóng xung kích được truyền đi với tốc độ lớn hơn tốc độ âm thanh (khoảng 1500m/s) [2]. Đồ thị áp suất p(t) của sóng xung kích.
Biên độ tăng lên áp suất đỉnh p+ trong vài nano giây, phần sóng giãn ra thấp tiếp theo p- có áp suất bằng khoảng 10% so với áp suất đỉnh [3]. So sánh sóng xung kích và sóng siêu âm Từ việc nghiên cứu bản chất sóng xung kích, có thể thấy rằng đây là một dạng sóng rất đặc biệt, khác hẳn với các sóng cơ học quen thuộc dùng trong vật lý trị liệu. Để thấy được sự khác biệt này, chúng ta so sánh sóng xung kích và sóng siêu âm – được tạo ra nhờ hiệu ứng áp điện nghịch khi đặt điện áp lên hai mặt của tinh thể thạch anh. Đồ thị áp suất sóng siêu âm [3] HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS.
TRẦN HY BÌNH 5 Sóng xung kích Sóng siêu âm Giống nhau Cùng là sóng cơ học lan truyền trong các môi trường chất lưu Là sóng xung, có độ rộng xung Là sóng điều hòa, có biên độ áp rất nhỏ. suất thay đổi theo hình sin. Khác nhau Tốc độ lan truyền lớn hơn tốc độ Tốc độ lan truyền bằng tốc độ âm thanh âm thanh 1. Các tham số cơ bản của sóng xung kích 1.
Áp suất Áp suất của sóng xung kích có giá trị bằng tỷ số giữa lực tác dụng của sóng xung kích vuông góc lên một mặt với diện tích của mặt đó, đơn vị đo áp suất là Pascal hay bar. Công thức tính áp suất: P = F/S Trong đó: P: áp suất F: lực tác động của sóng xung kích S: diện tích vùng tác động Áp suất của sóng xung kích có thể đo được khi sử dụng một cảm biến áp suất rất nhỏ, với điện dung cao và đáp ứng tần số rộng. Cảm biến thực hiện việc đo tại các vị trí khác nhau trong trường sóng xung kích. Đo áp suất tại các điểm trong trường sóng xung kích [3] HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS.
TRẦN HY BÌNH 6 Ở mỗi lần đo, đo được các tham số: áp suất đỉnh p+, sơ đồ áp suất tăng theo thời gian tr, độ rộng xung tw, pha giãn ra p-. Từ các giá trị đo được sẽ dựng lên biểu đồ minh họa cho sự phân bố áp suất sóng xung kích như hình 1. Phân bố áp suất trong trường sóng xung kích, trục x và z là hướng truyền của sóng, trục y là giá trị áp suất đỉnh p+ tương ứng trong trường sóng xung kích [3]. Mật độ năng lượng Mật độ năng lượng là năng lượng của sóng xung kích tác động lên một đơn vị diện tích, có đơn vị đo mJ/mm2 và được tính bằng công thức [3]: HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS.
TRẦN HY BÌNH 7 1 ED = 𝜌𝑐∫ 𝑝(𝑡 )𝑑𝑡 1. Các công nghệ tạo ra sóng xung kích Sóng xung kích xuất hiện hoàn toàn là mang bản chất vật lý sau khi xuất hiện một sự kiện mang tính bùng nổ, áp suất của nó có thể rất lớn đến mức phá hủy cả một tòa nhà. Trong kỹ thuật, tùy thuộc vào mục đích sử dụng có thể tạo ra được sóng xung kích có áp suất đỉnh thay đổi cho phù hợp. Hiện nay, các thiết bị tạo ra sóng xung kích chủ yếu dựa trên bốn nguyên lý: Điện thủy lực (Electrohydraulic); Điện từ (Electromagnetic); Áp điện (Piezoelectric); Sóng áp lực xuyên tâm (Pressure wave) hay còn gọi là sóng xung kích phân kỳ (radial shockwave).
Nguyên lý điện thủy lực Khi kích hoạt bugi (điện cực) đặt trong bầu nước có hình elipsoid, sự tăng nhiệt độ làm cho nước bị giãn nở đột ngột, tạo thành sóng xung kích. Sóng xung kích tạo ra đập vào thành của bầu nước và nếu điện cực đặt ở tiêu điểm F1 của elipsoid thì sóng xung kích được hội tụ tại tiêu điểm F2 [4]. Phương pháp điện thủy lực tạo sóng xung kích [4] Nguyên lý điện từ trường HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS. TRẦN HY BÌNH 8 Nguyên lý tạo sóng xung kích bằng điện từ trường giống với nguyên lý tạo âm thanh phát ra loa.
Cấu tạo của thiết bị gồm một nam châm làm bằng cuộn dây cuốn quanh lõi xelenoid, bên ngoài ống dây bao quanh bởi một màng dẫn kim loại, toàn bộ hệ thống được đặt trong một vật chứa hình parabolid quay, trên đó có gắn các gương phản xạ âm. Khi cho một dòng điện xung lớn chạy qua cuộn dây của nam châm tạo ra điện từ trường tác động vào màng dẫn sinh ra sóng xung kích. Sóng xung kích phát ra được hội tụ nhờ các gương đặt trên mặt parabolid xoay [4]. Phương pháp điện từ trường tạo sóng xung kích [4] Nguyên lý áp điện Vật liệu dùng để tạo sóng xung kích là gốm áp điện.
Khi đặt một xung điện lớn lên mặt gốm áp điện tạo nên sóng cơ học phát ra trên bề mặt gốm, đây chính là sóng xung kích. Khi đặt nhiều tinh thể gốm chồng lên nhau trên một hình cầu thì sóng cơ học do từng tinh thể gốm phát ra sẽ được tập trung lại tại một điểm. Phương pháp gốm áp điện tạo sóng xung kích [4] Nguyên lý tạo sóng áp lực xuyên tâm (sóng xung kích phân kỳ) HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS. TRẦN HY BÌNH 9 Trong kỹ thuật này, một viên đạn được gia tốc mạnh bằng khí nén làm cho nó có động năng rất lớn tới đập vào đầu phát.
Bằng cách sử dụng môi trường truyền dẫn như gen hay dầu, xung động ở đầu phát được truyền vào trong mô dưới dạng sóng xung kích, từ đó lan tỏa theo hình cầu, gọi là sóng áp lực xuyên tâm. Phương pháp tạo sóng xung kích phân kỳ [5] Ba phương pháp tạo sóng xung kích bằng điện thủy lực, điện từ và vật liệu áp điện tạo ra sóng xung kích hội tụ, có thể tập trung năng lượng lớn tại một điểm, thường được sử dụng trong các thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể trong y tế. Phương pháp tạo sóng xung kích phân kỳ (sóng áp lực xuyên tâm) tạo ra sóng xung kích dạng tỏa tròn, tác động được các mô ở phía bên ngoài, không xuyên sâu được vào trong cơ thể. Sóng xung kích này thường được sử dụng trong vật lý trị liệu để tác động vào cơ, xương, khớp.
Trong bài luận văn này sẽ trình bày chi tiết về cơ chế tác động của sóng xung kích phân kỳ khi tác động vào cơ thể người. Sự khác biệt giữa sóng xung kích tập trung và sóng xung kích phân kỳ được thể hiện trong bảng sau [3]: Sóng xung kích tập trung Sóng xung kích phân kỳ Trường áp lực Hội tụ Phân kỳ Thời gian tăng 0,01 µs 50 µs Độ rộng xung 0,3 µs 200 – 2000 µs Áp suất đỉnh dương 0 – 100 MPa 0 – 10 MPa Mật độ năng lượng 0 – 1,5 mJ/mm2 trong cơ thể 0 – 0,3 mJ/mm2 tại bề mặt HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS. TRẦN HY BÌNH 10 da Độ xuyên sâu tối đa 12 cm 3 cm trong cơ thể Kết luận chương 1: Chương 1 đã khảo sát bản chất vật lý của sóng xung kích là xung cơ học xuất hiện khi có sự kiện mang tính bùng nổ diễn ra, được đặc trưng bởi áp suất dương rất cao ở bề mặt sóng và khoảng giảm áp nhỏ ở đuôi sóng, năng lượng của sóng được truyền đi khoảng cách khá xa, với tốc độ lan truyền lớn hơn âm thanh. Điều này thực sự khác biệt với các sóng cơ học đã được sử dụng trong Vật lý trị liệu trước đây.
Với mục đích ứng dụng khác nhau mà công nghệ tạo ra sóng xung kích cũng khác nhau. Sóng xung kích tập trung được tạo ra bởi công nghệ điện thủy lực, công nghệ điện từ, công nghệ áp điện, với năng lượng rất cao dùng để phá hủy vật chất. Sóng xung kích phân kỳ được tạo ra bởi công nghệ khí nén và được ứng dụng trong Vật lý trị liệu. Cơ chế phá hủy vật chất của sóng xung kích tập trung đã được nghiên cứu và phát triển rộng rãi trong y tế, thế nhưng, cơ chế điều trị của sóng xung kích phân kỳ vẫn còn khá mới mẻ, điều này sẽ được làm rõ hơn ở chương 2.
HVTH: ĐỖ KHOA BÌNH GVHD: TS. TRẦN HY BÌNH 11 CHƯƠNG 2: TÁC DỤNG CỦA SÓNG XUNG KÍCH LÊN CƠ THỂ NGƯỜI 2. Lịch sử ứng dụng sóng xung kích trong y học Sóng xung kích được sử dụng trong y tế lần đầu tiên là trong lĩnh vực ngoại khoa. Ý tưởng sử dụng sóng xung kích với mục đích phá vỡ cấu trúc bên trong cơ thể như sỏi mật, sỏi thận từ bên ngoài không tiếp xúc trực tiếp với cơ thể được nảy sinh vào cuối những năm 60 [3].
Ý tưởng này được phát triển trong những năm 1970 chủ yếu ở Munchen do GS.TS Water Breudel, khoa tiết niệu trường Đại học Ludwig Maximillian và GS.TS Eghert Schmiedt, bệnh viện phẫu thuật thực nghiệm thành phố Grosshadern tiến hành trên các thiết bị của hãng Dornier. Tháng 2 năm 1980, ca phẫu thuật đầu tiên nghiền nát sỏi thận bằng công nghệ sóng xung kích HM1 của hãng Dornier thực hiện thành công. Đến năm 1982, thiết bị đã điều trị khoảng 200 bệnh nhân, chủ yếu về sỏi thận có đường kính dưới 1cm [7].