Tổng quan nghiên cứu

Nắng nóng diện rộng là một dạng thiên tai khí hậu đặc biệt nguy hiểm, thường xuyên đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp và an ninh năng lượng tại Việt Nam. Theo thống kê khí tượng trong chu kỳ 21 năm từ năm 1998 đến năm 2018 tại 186 trạm quan trắc bề mặt trên toàn quốc, cả nước đã hứng chịu tổng cộng 429 đợt nắng nóng diện rộng với 2.816 ngày nắng nóng gay gắt. Dưới tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu toàn cầu, tính chất cực đoan của nhiệt độ gia tăng rõ rệt, thể hiện qua các năm kỷ lục như năm 2015 tại Bắc Bộ với 16 đợt kéo dài 85 ngày, hay năm 2016 tại Nam Bộ với 137 ngày khô nóng liên tục. Vấn đề cốt lõi trong công tác dự báo hiện nay là các phương pháp phân tích synop truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm chủ quan của dự báo viên, dẫn đến độ phân tán cao và thiếu tính đồng nhất khi nhận diện hình thế thời tiết.

Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn tập trung giải quyết mục tiêu ứng dụng phương pháp Bản đồ tự tổ chức (Self-Organizing Map - SOM) kết hợp kỹ thuật phân cụm K-Means nhằm phân loại khách quan, định lượng các dạng hình thế thời tiết gây nắng nóng diện rộng. Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được chia thành 3 khu vực khí hậu đại diện gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ trong giai đoạn 1998-2018, sử dụng trường số liệu tái phân tích JRA25 trên miền tọa độ từ 0 đến 35 độ vĩ Bắc và từ 80 đến 140 độ kinh Đông. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp một quy trình phân loại tự động có độ tin cậy cao, tạo tiền đề nâng cao chất lượng dự báo hạn ngắn từ 3 đến 5 ngày và hỗ trợ giảm thiểu tỷ lệ sai số nhiệt độ cực trị trên 1,0 độ C cho các cơ quan khí tượng thủy văn quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết mạng nơ-ron nhân tạo thông qua thuật toán Bản đồ tự tổ chức do Teuvo Kohonen phát triển, kết hợp với lý thuyết phân cụm dữ liệu không giám sát K-Means. Cấu trúc mô hình nghiên cứu gồm hai tầng: tầng tín hiệu đầu vào tiếp nhận các trường khí quyển đa chiều và tầng Kohonen đầu ra được tổ chức dưới dạng lưới hai chiều kích thước 8x8 gồm 64 nơ-ron. Mạng SOM vận hành dựa trên cơ chế học cạnh tranh không giám sát, cho phép chiếu giảm dữ liệu nhiều chiều phức tạp về không gian hai chiều mà vẫn bảo toàn cấu trúc tôpô của tập dữ liệu gốc thông qua việc xác định nơ-ron chiến thắng theo khoảng cách Ơ-clit.

Để giải quyết hạn chế của việc chọn cụm tùy ý trong thuật toán K-Means, nghiên cứu tích hợp kỹ thuật Ma trận khoảng cách thống nhất (U-Matrix). Ma trận này trực quan hóa khoảng cách giữa các véc-tơ trọng số nơ-ron lân cận dưới dạng thang độ xám, giúp xác định chính xác số cụm tiềm năng xung quanh các cực tiểu cục bộ trước khi chạy phân cụm. Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm khí tượng cơ bản: Nhiệt độ tối cao ngày (Tx) với ngưỡng quy ước nắng nóng từ 35,0 độ C trở lên; Áp suất trung bình mực biển (PMSL) đặc trưng cho tâm áp thấp nhiệt lực tầng thấp; Độ cao địa thế vị mực 500 hPa (H500) phản ánh trường hoàn lưu sóng dài tầng đối lưu giữa; và Áp cao cận nhiệt đới Tây Thái Bình Dương đóng vai trò hệ thống chi phối dòng giáng quy mô lớn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm chuỗi quan trắc nhiệt độ tối cao ngày tại 186 trạm khí tượng bề mặt trên toàn quốc và bộ số liệu tái phân tích khí quyển JRA25 của Cơ quan Khí tượng Nhật Bản với độ phân giải 1,25 x 1,25 độ kinh vĩ. Dữ liệu JRA25 được trích xuất trên miền không gian gồm 40 x 29 điểm nút lưới (tương ứng 1.160 điểm lưới). Cỡ mẫu thực nghiệm bao gồm 156 đợt nắng nóng tại Bắc Bộ (737 ngày), 204 đợt tại Trung Bộ (1.295 ngày) và 69 đợt tại Nam Bộ (784 ngày) trong suốt timeline 21 năm (1998-2018).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc chọn mẫu có chủ đích dựa trên tiêu chí nắng nóng diện rộng: đợt nắng nóng phải kéo dài từ 1 ngày trở lên và có tối thiểu 50% số trạm quan trắc trong khu vực đồng thời đạt ngưỡng Tx từ 35,0 độ C trở lên. Nhằm khắc phục hiện tượng dư thừa thông tin và tính tự tương quan cao giữa 2.320 biến khí quyển ban đầu (2 trường x 40 x 29 nút lưới), dữ liệu được chuẩn hóa theo công thức Z-score về dạng vô thứ nguyên trước khi đưa vào phân tích thành phần chính (PCA). Kỹ thuật PCA cho phép nén trường dữ liệu xuống còn 15 đến 20 thành phần chính mà vẫn bảo toàn trên 85% phương sai của trường khí quyển ban đầu. Lý do lựa chọn kết hợp SOM và K-Means xuất phát từ việc K-Means đơn lẻ đòi hỏi phải định trước số cụm một cách cảm tính, trong khi SOM tự động làm nổi bật cấu trúc phân bố tự nhiên của các hình thế synop, giúp quá trình phân loại đạt tính khách quan tuyệt đối.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi thời gian 21 năm chỉ ra rằng Trung Bộ là tâm điểm nắng nóng khắc nghiệt nhất Việt Nam với 204 đợt và 1.295 ngày nắng nóng, cao hơn 75,7% về số ngày so với Bắc Bộ (737 ngày) và cao hơn 65,2% so với Nam Bộ (784 ngày). Đỉnh điểm tập trung vào tháng 6 với 352 ngày nắng nóng tại Trung Bộ, chiếm tỷ trọng 27,2% tổng số ngày nắng nóng trong toàn bộ chu kỳ khảo sát.

Thứ hai, tại khu vực Bắc Bộ, nắng nóng xuất hiện trung bình từ 6 đến 7 đợt mỗi năm, tập trung cao điểm từ tháng 5 đến tháng 7 và có xu hướng gia tăng mạnh mẽ trong giai đoạn 10 năm gần đây. Năm 2015 ghi nhận kỷ lục với 16 đợt nắng nóng diện rộng kéo dài 85 ngày.

Thứ ba, khu vực Nam Bộ có số đợt nắng nóng ít hơn (trung bình 4 đến 5 đợt mỗi năm) nhưng thời gian duy trì mỗi đợt lại kéo dài vượt trội, nhiều đợt kéo dài liên tục từ 30 đến 60 ngày. Riêng năm 2016 ghi nhận hiện tượng bất thường với 11 đợt nắng nóng bao phủ 137 ngày trong mùa khô.

Thứ tư, phương pháp SOM kết hợp U-Matrix và K-Means đã phân chia khách quan các đợt nắng nóng thành các nhóm hình thế đặc trưng: khu vực Bắc Bộ được phân loại thành 4 cụm hình thế; khu vực Trung Bộ phân tách thành 3 cụm hình thế; và khu vực Nam Bộ thể hiện sự phân hóa rõ nét nhất với 2 cụm hình thế synop chi phối.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân cụm khách quan phản ánh chính xác các quy luật nhiệt động lực học trong khí quyển. Tại Bắc Bộ và Trung Bộ, cơ chế gây nắng nóng chủ yếu do vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển mở rộng về phía Đông Nam kết hợp hoàn lưu gió mùa Tây Nam vượt địa hình dãy Trường Sơn. Hiệu ứng phơn nén khí khiến độ ẩm giảm mạnh và nhiệt độ mặt đất tăng vọt thêm từ 2,0 đến 3,0 độ C so với các khu vực lân cận. Trên tầng cao mực 500 hPa, sự lấn sang phía Tây của Áp cao cận nhiệt đới thiết lập trường dòng giáng quy mô lớn, làm tiêu tan các khối mây đối lưu và khiến bức xạ mặt trời hun nóng bề mặt đất liên tục nhiều ngày. Tại Nam Bộ, 2 cụm hình thế SOM gắn liền với sự khơi sâu của áp thấp nóng Ấn - Miến và sự ngự trị của lưỡi áp cao trên cao trong giai đoạn chuyển mùa từ tháng 3 đến tháng 4.

So sánh với các nghiên cứu synop truyền thống trước đây vốn chia nắng nóng Bắc Bộ thành 5 nhóm hình thế mang tính định tính, phương pháp SOM đã tự động gom các đợt có cấu trúc tương đồng về 4 cụm bản chất, loại bỏ các phân lớp trùng lặp do thiên kiến dự báo viên. Trong công tác trình bày khoa học, các kết quả phân cụm này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ phân bố tần suất nắng nóng theo tháng, bản đồ composite đẳng trị áp suất mực biển kết hợp đường đẳng cao địa thế vị H500, và đồ thị ma trận khoảng cách U-Matrix hai chiều giúp quan sát rõ các thung lũng trọng số đại diện cho tâm từng nhóm thời tiết.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tích hợp thuật toán phân loại khách quan SOM vào hệ thống hỗ trợ dự báo tác nghiệp của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia. Cần tự động hóa việc đưa các trường PMSL và H500 từ mô hình toàn cầu vào ma trận phân cụm nhằm xác định hình thế gây nắng nóng trước từ 3 đến 5 ngày, phấn đấu giảm sai số dự báo nhiệt độ tối cao xuống dưới 0,8 độ C trong lộ trình giai đoạn 2026-2027.

Thứ hai, nâng cấp độ phân giải không gian của dữ liệu đầu vào. Các viện nghiên cứu chuyên ngành khí quyển cần triển khai thử nghiệm các bộ số liệu tái phân tích độ phân giải cao hơn như ERA5 với lưới 0,25 x 0,25 độ kinh vĩ, đồng thời bổ sung thêm các trường độ ẩm và gió tại mực 850 hPa nhằm cải thiện khả năng phát hiện sớm các đợt nắng nóng cục bộ trong giai đoạn 2026-2028.

Thứ ba, biên soạn sổ tay nhận dạng synop số hóa dựa trên kết quả ma trận U-Matrix 8x8. Cơ quan quản lý dự báo cần chuẩn hóa 9 mẫu hình thế đặc trưng của 3 miền thành tài liệu tra cứu nghiệp vụ chuẩn, tổ chức tập huấn kỹ thuật phân tích khách quan cho 100% dự báo viên tại 9 Đài Khí tượng Thủy văn khu vực trong thời gian 12 đến 24 tháng.

Thứ tư, thiết lập cơ chế cảnh báo rủi ro cực đoan liên ngành. Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống Thiên tai phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Bộ Y tế xây dựng kế hoạch điều tiết phụ tải điện và phòng chống sốc nhiệt cộng đồng mỗi khi hệ thống SOM nhận diện đợt nắng nóng có nguy cơ kéo dài trên 7 ngày với độ tin cậy trên 75%, kích hoạt định kỳ từ tháng 3 hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Dự báo viên và chuyên viên phân tích khí tượng tại các đài khí tượng thủy văn trung ương và khu vực. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hiện đại giúp chuyển đổi quy trình nhận định hình thế thủ công sang mô hình hóa tự động, rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu và nâng cao độ chính xác của các bản tin dự báo mùa hè.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Khí tượng, Khí hậu học, Môi trường và Khoa học Dữ liệu. Tài liệu là một hình mẫu nghiên cứu ứng dụng khai phá dữ liệu khí quyển, minh họa tường tận các bước chuẩn hóa Z-score, kỹ thuật giảm chiều PCA và thuật toán mạng nơ-ron SOM.

Nhóm thứ ba: Kỹ sư điều độ và các nhà quản lý vận hành hệ thống điện quốc gia. Việc nắm vững chu kỳ xuất hiện của 156 đợt nắng nóng tại Bắc Bộ và 204 đợt tại Trung Bộ giúp các đơn vị xây dựng phương án dự phòng công suất phát điện hợp lý, hạn chế tối đa nguy cơ quá tải lưới điện cục bộ khi nhu cầu làm mát tăng đột biến.

Nhóm thứ tư: Cơ quan chỉ đạo phòng chống thiên tai và các nhà hoạch định chính sách thích ứng biến đổi khí hậu. Dữ liệu thống kê 21 năm và đặc điểm kéo dài từ 30 đến 60 ngày của các đợt nắng nóng Nam Bộ là cơ sở thực chứng để xây dựng các kịch bản cấp nước sinh hoạt, bảo vệ năng suất cây trồng và hạn chế cháy rừng trong mùa khô hạn.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Phương pháp SOM mang lại ưu thế nổi bật nào so với phân tích synop truyền thống? Trả lời: Phân tích synop truyền thống phụ thuộc lớn vào đánh giá chủ quan và kinh nghiệm cá nhân của dự báo viên, dễ dẫn đến kết quả khác biệt giữa các chuyên gia. Phương pháp SOM sử dụng mạng nơ-ron tự tổ chức để xử lý tự động 2.320 biến khí quyển, giúp phân cụm khách quan, định lượng và nhất quán mà không bị chi phối bởi yếu tố con người.

Câu hỏi 2: Vì sao luận văn kết hợp phương pháp SOM với ma trận U-Matrix và K-Means? Trả lời: Thuật toán K-Means thuần túy có nhược điểm lớn là bắt buộc người dùng phải chọn trước số lượng cụm một cách cảm tính. Việc kết hợp ma trận U-Matrix cho phép hiển thị khoảng cách nơ-ron trực quan trên bản đồ mức xám, xác định chính xác số cụm tự nhiên trước khi K-Means tiến hành phân nhóm, đảm bảo phân loại tối ưu.

Câu hỏi 3: Tại sao nghiên cứu chỉ chọn hai trường biến PMSL và H500 để phân loại? Trả lời: Áp suất mực biển PMSL phản ánh cụ thể sự phát triển của các vùng áp thấp nóng mặt đất, trong khi độ cao địa thế vị mực 500 hPa đặc trưng cho hoạt động của Áp cao cận nhiệt đới tầng cao. Việc tinh giản còn 2 trường biến đại diện giúp loại bỏ hiện tượng tự tương quan dữ liệu và tiết kiệm đáng kể thời gian tính toán của mô hình.

Câu hỏi 4: Đặc điểm nắng nóng diện rộng giữa khu vực Trung Bộ và Nam Bộ khác nhau như thế nào? Trả lời: Trung Bộ là khu vực có tần suất xuất hiện cao nhất cả nước với 204 đợt và 1.295 ngày nắng nóng trong 21 năm do hiệu ứng phơn dữ dội. Trong khi đó, Nam Bộ có số đợt ít hơn nhiều với 69 đợt nhưng mỗi đợt có xu hướng kéo dài dai dẳng từ 30 đến 60 ngày liên tục trong các tháng mùa khô.

Câu hỏi 5: Kết quả phân loại của luận văn có khả năng ứng dụng thực tế trong nghiệp vụ dự báo ra sao? Trả lời: Toàn bộ trọng số nơ-ron của mạng SOM sau huấn luyện đóng vai trò như bộ nhận diện hình thế mẫu. Khi nhận dữ liệu trường khí áp và địa thế vị từ các mô hình dự báo số trị toàn cầu, hệ thống tự động đối soát để cảnh báo trước từ 3 đến 5 ngày đợt thời tiết sắp tới thuộc nhóm nắng nóng nào.

Kết luận

  • Luận văn ứng dụng thành công mạng nơ-ron tự tổ chức SOM kết hợp U-Matrix và K-Means, thiết lập quy trình phân loại khách quan các hình thế synop gây nắng nóng diện rộng tại Việt Nam.
  • Công trình đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về nắng nóng qua chuỗi số liệu 21 năm (1998-2018), ghi nhận chi tiết 156 đợt tại Bắc Bộ, 204 đợt tại Trung Bộ và 69 đợt tại Nam Bộ.
  • Mô hình nhận dạng chuẩn xác 4 nhóm hình thế synop chi phối tại Bắc Bộ, 3 nhóm tại Trung Bộ và 2 nhóm tại Nam Bộ, khắc phục triệt để các nhược điểm chủ quan của phương pháp dự báo truyền thống.
  • Kỹ thuật PCA kết hợp chuẩn hóa Z-score đã nén tối ưu 2.320 biến khí quyển ban đầu xuống còn 15 đến 20 thành phần chính mà vẫn giữ lại trên 85% phương sai của trường thời tiết.
  • Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2026-2030 là mở rộng tích hợp hệ thống phân tích tự động trên nguồn số liệu tái phân tích độ phân giải cao và triển khai đồng bộ tại các đài dự báo.

Các cơ quan dự báo khí tượng và đơn vị nghiên cứu chuyên ngành nên sớm triển khai ứng dụng mô hình SOM vào nghiệp vụ thực tế nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm thiên tai, góp phần chủ động bảo vệ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế bền vững.